Văn bản trích xuất theo trang
Trang 422
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH THUYẾT BỔN462
ra không có tai họa nào khác.
Này các Tỳ-kheo, lúc con người thọ tám vạn tuổi có vua tên là Loa11, là
Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân chỉnh trị thiên
hạ, tự do tự tại, là Pháp vương theo đúng như pháp, thành tựu bảy báu.
Bảy báu là: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, tướng
quân báu. Đó là bảy báu. vua có đầy đủ một ngàn người con trai, dung
mạo khôi ngô, dũng mãnh, không khiếp sợ, hàng phục được địch quân.
vua thống lĩnh quả đất này cho đến bờ biển, không dùng đao gậy mà chỉ
đem pháp để trị hóa, khiến dân chúng được an lạc. Có cây phướn bằng
vàng lớn,12 được trang hồng bằng các thứ châu báu, treo cao một ngàn
khuỷu tay, chu vi mười tám khuỷu tay, sẽ do vua dựng lên. Sau khi dựng
xong, ngay phía dưới tổ chức bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, người
nghèo khổ cô độc từ các phương xa lại xin, đem đồ ăn thức uống, áo
chăn, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, bột hương, nhà cửa, giường nệm, đệm
lông, khăn quấn và cung cấp dầu đèn... Sau khi bố thí như vậy, vua cạo
bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
xuất gia học đạo. Mục đích mà thiện gia nam tử kia cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo,
duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời này mà tự tri tự
giác, tự thân chứng ngộ, thành tựu và an trú, biết như thật rằng: Sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái
sanh nữa.”
Bấy giờ có Tôn giả [510a] A-di-đa13 đang ngồi trong chúng. Tôn giả A-
di-đa từ chỗ ngồi đứng dậy, kéo lệch tay áo đang mặc, chắp tay hướng về
Đức Phật mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn! Một thời gian lâu dài ở vị lai, lúc con người thọ đến tám
già (jāra).
11 Loa 螺. Pāli: Saṅkha (tương-khư, vỏ sò).
12 Đại kim tràng 大金幢. Xem No 1(6): Đại bảo tràng 大寶幢. D. 26 (iii 76): so
yūpo raññā mahāpanādena kārāpito, vua cho dựng cung điện được thiết lập bởi
vua Mahāpanāda. Trong đó, yūpa: cột tế đàn, cũng có nghĩa cung điện.
13 A-di-đa 阿夷多. Pāli: Ajita. Trong bản kinh này, A-di-đa (Ajita) và Di-lặc
(Mettaya) là hai nhân vật được thọ ký, một người làm vua và một người làm
Phật.