Văn bản trích xuất theo trang
Trang 370
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH TẦN-BỆ-SA-LA VƯƠNG NGHINH PHẬT410
“Bạch Đức Thế Tôn, tôi là Tẩy-ni Tần-tì-sa-la5, Vua nước Ma-kiệt-đà.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này Đại vương, đúng vậy, đúng vậy. Đại vương là Tẩy-ni Tần-tì-sa-la,
Vua nước Ma-kiệt-đà.”
Sau khi Vua Tẩy-ni Tần-tì-sa-la nước Ma-kiệt-đà ba lần tự xưng danh
tánh rồi, đảnh lễ Phật và ngồi qua một bên. Có người chào hỏi Phật rồi
ngồi qua một bên. Có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi qua một bên.
Có người ở xa thấy Phật rồi lặng lẽ ngồi xuống.
Bấy giờ Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp6 cùng ngồi trong chúng. Tôn giả là vị
mà những người nước Ma-kiệt-đà [497c] đều chú ý đến và cho rằng, đó
là bậc Đại tôn sư, bậc Chân nhân Vô trước.7 Bấy giờ những người xứ
Ma-kiệt-đà đều nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm theo Uất-tỳ-la Ca-diếp học
phạm hạnh chăng? Hay là Uất-tỳ-la Ca-diếp theo Sa-môn Cù-đàm học
phạm hạnh?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn biết ý nghĩ trong tâm người xứ Ma-kiệt-đà, liền
hướng về Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp mà nói bài tụng:
“Ca-diếp, thấy những gì,
Bỏ lửa mà đến đây?
Ca-diếp, nói Ta biết,
Lý do không thờ lửa?”
“Ăn uống, các vị ngọt:
Vì dục nên thờ lửa;
Trong sanh8, thấy như vậy,
Cho nên không ưa thờ.”9
5 Tẩy-ni Tần-tì-sa-la 洗 尼 頻 鞞 娑 邏. Pāli: Seniya Bimbisāra.
6 Uất-tỳ-la Ca-diếp 鬱 毗 羅 迦 葉. Pāli: Uruvela-Kassapa, anh cả trong ba anh
em, thuộc hàng tông sư của ngoại đạo bện tóc.
7 Vô trước Chân nhân 無著真人, từ dịch khác của A-la-hán. Dân chúng xem
các vị này là Thánh nhân, tức A-la-hán.
8 Hán: sanh trung, có lẽ dịch từ tương đương Pāli: upadhi: sanh y, hữu y; chỉ
khát ái phiền não làm căn cơ cho tồn tại. Nhưng Hán thương phiên âm là ức-bà-
đề 億婆提 mà không dịch.
9 Trả lời của Ca-diếp, Vin. i. 36 (Mahāvagga): (…) etaṃ malan’ti upadhīsu ñatvā,