Văn bản trích xuất theo trang
Trang 217
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH TƯƠÏNG TÍCH DỤ 234
da thô và mịn, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, lá lách, ruột, bao
tử, phẩn và những thứ khác tương tự như vậy ở trong thân, được thâu
nhiếp bên trong, có tính chất cứng, được chấp thủ bên trong. Đó là nội
địa giới.
“Này Chư Hiền, ngoại địa giới, đó là lớn, là tịnh, là không đáng tởm3.
“Này Chư Hiền, có lúc bị thủy tai, khi ấy ngoại địa giới tiêu diệt4.
“Này Chư Hiền, ngoại địa giới này cực kỳ lớn, cực kỳ tịnh, cực kỳ không
đáng tởm. Đó là pháp vô thường, pháp cùng tận, pháp suy vong, pháp
biến dịch, huống là xác thân tạm thời đình trú, được duy trì chấp thủ bởi
tham ái này. Nghĩa là kẻ phàm phu ngu si, không đa văn, suy nghĩ như
vầy: ‘Đây là ta, đây là của ta, ta là của cái kia’.5 Đa văn Thánh đệ tử
không nghĩ như vậy: ‘Đây là ta, đây là của ta, ta là của cái kia’. Vị ấy vì
sao nghĩ như vậy? Nếu có người khác mắng chửi, đánh đập, giận giữ,
quở trách, thì vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta sanh ra khổ này là từ nhân duyên,
chứ không phải không có nhân duyên. Cái gì là duyên? Duyên vào khổ
xúc’. Vị ấy quán xúc là vô thường; rồi quán thọ, tưởng, hành, thức cũng
là vô thường. Tâm vị ấy duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà hiệp, mà nhất
tâm, mà định, mà không lay động.6 Sau đó, có người đến nói với vị ấy
bằng lời lẽ dịu dàng. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Ta sanh ra sự lạc này là từ
nhân duyên chớ không phải không nhân duyên. Cái gì là duyên? Duyên
vào lạc xúc’. Vị ấy quán xúc là vô thường, rồi quán thọ, tưởng, hành,
thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà
hiệp, mà nhất tâm, mà định, mà không lay động. Sau đó, hoặc có người thơ
ấu, niên thiếu, trung niên hay trưởng lão đến làm việc không xứng ý với vị
ấy; hoặc nắm tay thoi, hoặc lấy đá ném, hoặc dao, hoặc gậy đập. Vị ấy suy
3 Đại, tịnh, bất tắng ố 大, 淨, 不 憎 惡. Đại vì kích thước lớn hay phổ biến. Nói
tịnh và bất tắng ố, vì không phải là đối tượng để quán bất tịnh.
4 Pāli: hoti... samayo yam bāhirā āpodhātu pakuppati, antarahitā tasmiṃ samaye
bāhirā paṭhavīdhatu, có một thời ngoại thủy giới bị chấn động (thịnh nộ), khi ấy
ngoại địa giới biến mất.
5 Hán: (…) ngã thị bỉ sở 我是彼所. Pl.: taṃ netaṃ mama, nesohasmi, na meso
attā, nó không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự
ngã của tôi.”
6 Pl. (M.i. 196): tassa dhatārammaṇameva cittaṃ pakkandati pasīdati santiṭṭhati
adhimuccati, vị ấy duyên nơi giới mà tâm hoan hỷ, an tịnh, tĩnh chỉ, quyết định.