Văn bản trích xuất theo trang
Trang 188
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH PHẠM CHÍ ÑÀ-NHIÊN203
vậy, tâm câu hữu với bi, hỷ; với xả, biến mãn một phương, thành tựu
và an trụ. Cũng vậy, với hai, ba bốn phương, tứ duy và thượng hạ,
thấu khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không ốn, không sân
hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn
khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Đà-nhiên, đó là Đức Thế Tôn,
là bậc Tri Kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có nói
về bốn Phạm trụ. Nếu một thiện gia nam tử hay một thiện gia nữ nào
tu tập nhiều, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, khi thân hoại mạng
chung sẽ sanh lên cõi Phạm thiên”.
Bấy giờ, sau khi giáo hóa cho Đà-nhiên, nói về pháp Phạm thiên,
Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Tôn giả Xá-lợi-
phất từ thành Vương Xá đi, chưa đến Trúc lâm vườn Ca-lan-đa,
đang nửa đường ấy, Bà-la-môn Đà-nhiên do tu tập bốn Phạm trụ,
đoạn dục, xả dục niệm, thân hoại mạng chung sanh lên cõi Phạm
thiên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng đang vây
quanh trước sau. Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Xá-lợi-phất từ đàng xa đi tới,
nói với các thầy Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là bậc thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ,
quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ10; Tỳ-
kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu thật tuệ. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã giáo
hóa Bà-la-môn Đà-nhiên, nói về Phạm thiên rồi mới về đây. Nếu lại giáo
hóa cao hơn nữa thì người kia nhanh chóng biết pháp tùy pháp11”.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân
rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn bảo rằng:
10 Hán: thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ,
minh đạt tuệ, biện tài tuệ 聰慧速慧捷慧利慧廣慧深慧出要慧明達慧辯才慧.
Bản Pāli ở đây không nói các đặc điểm trí tuệ của ngài Xá-lợi-phất, nhưng có
thể tìm thấy đoạn tương đương M.iii, tr, 25: paṇḍito (tuệ thông bác), mahāpāñño
(đại tuệ), javanapāñño (tuệ nhạy bén, tiệp tuệ), tikkhapāñño (tuệ sắc bén, lợi tuệ),
nibbedhikapāñño (tuệ sâu sắc, quyết trạch tuệ).
11 Hán: tri pháp như pháp 知法如法. Pāli: dhamma-anudhamma. Đoạn văn này,
Pāli tương đương: (...) sati uttarikaraṇīye hīne brahmaloke patiṭṭhāpetvā ..., “trong
khi có pháp cao hơn nữa cần chứng, nhưng lạï xác lập ở Phạm thiên giới...”