Văn bản trích xuất theo trang
Trang 175
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH CÙ-NI-SÖ 190
“Này Chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học biết ngồi và
ngồi đúng chỗ; không lấn chỗ ngồi của vị Trưởng lão, bị Tỳ-kheo nhỏ
khiển trách8. Này Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự mà
chiếm chỗ ngồi của bậc trưởng lão, bị các Tỳ-kheo nhỏ chỉ trích, sẽ bị
các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn: ‘Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà làm
gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà chiếm chỗ ngồi của
các bậc trưởng lão, bị các Tỳ-kheo nhỏ chỉ trích’. Nếu đến ở trong đại
chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này
Chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự nên học biết ngồi và ngồi
đúng chỗ.
“Này Chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học thảo luận về
Luật và A-tì-đàm9. Vì sao thế. Này Chư Hiền, khi Tỳ-kheo vô sự sống ở
nơi vô sự, hoặc có người đến hỏi về Luật và A-tì-đàm. Này Chư Hiền,
nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự mà không biết trả lời về Luật và A-
tì-đàm, thì làm cho các Tỳ-kheo khác thường chỉ trích cật vấn: ‘Vị Hiền
giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả vô sự này
sống ở nơi vô sự nhưng không biết trả lời về Luật và A-tì-đàm’. Nếu đến
ở giữa đại chúng cũng làm cho các Tỳ-kheo thường chỉ trích cật vấn. Do
đó, này Chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự nên học thảo luận về
Luật và A-tì-đàm.
“Này Chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học thảo luận
về tịch tĩnh giải thốt10 và ly sắc11 cho đến vô sắc định12. Vì sao thế? Này
Chư Hiền, khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự, hoặc có người đến hỏi về
tịch tĩnh giải thốt và ly sắc cho đến vô sắc định. Này Chư Hiền, nếu Tỳ-
kheo vô sự sống ở nơi vô sự mà không biết trả lời về tịch tĩnh giải thốt
và ly sắc cho đến vô sắc định thì làm cho các Tỳ-kheo khác thường chỉ
8 Pāli: there ca bhikkhū nānupakhajja nisīdissāmi nave ca bhikkhū na āsanena
paṭibāhissāmi, không chiếm chỗ ngồi của các Tỳ-kheo Thượng tọa; không đuổi
các vị tân Tỳ-kheo khỏi chỗ ngồi.
9 Luật, A-tì-đàm 律阿毗曇. Pāli: abhivinaya, abhidhamma, chỉ phần tinh nghĩa
của luật (vinaya) và pháp (dhamma); không phải A-tì-đàm của Luận tạng.
10 Hán: tức giải thốt 息 解 脫. Pāli: santa-vimokka.
11 Hán: ly sắc 離 色. Pāli: atikkamma rūpe, vượt qua sắc pháp.
12 Hán: nãi chí vô sắc định 乃至無色定. Pāli: āruppā tattha yogo karaṇīyo, tu
tập về các vô sắc.