Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Tăng nhất A-hàm — Tổng mục lục

Kinh Tăng nhất A-hàm — Tổng mục lục

Thích Đức Thắng dịch · 277 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 9

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

Tăng nhất A-hàm (Mahãsanghika).8 Nhưng thứ tự được ghi trong luật Tăng-kỳ9 thì không như vậy. Thứ tự theo đó vẫn là Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất và Tạp tạng là cuối cùng. Do sự không nhất trí như vậy, cho nên quan điểm được bổ túc là cho rằng đây thuộc Đại chúng bộ hậu kỳ.10 Nói rằng Tăng nhất A-hàm Hán dịch thuộc Đại chúng bộ, điều này cũng có cơ sở. Tăng nhất, phẩm 33 kinh số 2, truyện kể Tôn giả Thi-bà-la được gia chủ cúng dường “trăm nghìn lượng vàng” nhưng không nhận, nói rằng “Như Lai lại không cho phép Tỳ-kheo nhận trăm ngàn lượng vàng.” Vị gia chủ đến bạch Phật, thỉnh nguyện cho Thi-bà-la nhận, để ông được phước. Phật cho gọi Thi-bà- la đến, bảo rằng “Nay ngươi hãy nhận trăm ngàn lượng vàng của gia chủ này, để ông ấy được phước này. Đây là nệhiệp duyên kiếp trước, nên hưởng báo này.” Thi-bà-la, đông nhât với Pãli, được Phật xác nhận là vị Thanh văn có nhiều lợi dưỡng nhất, nghĩa là giàu nhất, nhưng không nơi nào, kể cả trong các kinh Hán dịch khác, nói Phật cho phép Thi-bà-la nhận vàng cúng dường bởi thí chủ. Điều này rõ ràng các vị Đại chúng bộ muôn hợp pháp hóa chủ trương Tỳ-kheo được phép nhận tiền, yếu tố dẫn đến đại hội kết tập lần thứ hai tại Tì-da-ly như được biét. Việc quy định Tỳ-kheo không được phép cầm nắm và cất giữ vàng bạc, tiền, thuộc điều khoản ni-tát-kỳ ba-dật-đề mà tất cả các luật bộ của các bộ phái trong cả ba hệ ngôn ngữ 8 Lữ Trừng, Ấn độ Phật học nguyên lưu lược giảng, Lữ Trừng Phật học luận trước tuyển tập, tập iv, tr. 2018. 9 Ma-ha-tăng-kỳ luật quyển 32, T22 tr. 491cl6. Đoạn sau, op.cit, tr. 492cl8, kể theo thứ tự ngược: “Từ Tôn giả Đạo Lực, nghe Tì- ni, A-tì-đàm, Tạp A-hàm, Tăng nhất A-hàm, Trung A-hàm, Trường A-hàm. 10 Ấn Thuận, Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành, 1993, tr. 755. 10