Bản chủ
Trang 909
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
908
TUỆ SỸ
bốn nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Sắc cứu
cánh thiên là năm nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi
thọ của Không vô biên xứ thiên là một vạn kiếp, hoặc
có giảm bớt. Tuổi thọ của Thức vô biên xứ thiên là hai
vạn một nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của
Vô sở hữu xứ thiên là bốn vạn hai nghìn kiếp, hoặc có
giảm bớt. Tuổi thọ của Phi tưởng phi phi tưởng thiên là
tám vạn bốn nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Trong giới
hạn ấy, được gọi là chúng sinh; trong giới hạn ấy được
gọi là tuổi thọ; trong giới hạn ấy được gọi là thế giới;
trong giới hạn ấy là sự luân chuyển của tập hợp uẩn,
xứ, giới, qua lại trong các cõi, sinh, già, bệnh, chết.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả chúng sinh do bốn loại thức ăn mà tồn tại. Một
là đồn thực có thô có tế.27 Hai là xúc thực. Ba là ý tư
thực. Bốn là thức thực. Những loại thức ăn này chúng
sinh ăn không giống nhau. Như người cõi Diêm-phù-đề
dùng các loại cơm, bột, cá thịt, gọi là loại đồn thực.28 Y
phục, tắm giặt, được gọi là tế hoạt thực.29 Người Câu-da-
ni, Phất-vu-đãi cũng ăn các loại cơm, bột, cá thịt được
gọi là đồn thực; y phục, tắm giặt là tế hoạt thực. Người
Uất-đan-viết thì chỉ ăn lúa gạo chín tự nhiên, đầy đủ vị
trời lấy làm đồn thực; cũng lấy y phục, tắm giặt làm tế
27 Hán: đồn tế hoạt thực 摶 細 滑 食. Pl.: kabaḷikāro āhāro olāriko vā
sukhumo. Xem T 1(9) kinh Chúng tập.
28 Chỉ thực phẩm vật chất: thức ăn được nắn thành viên, do tục ăn bốc
của người Ấn.
29 Tham chiếu, Câu xá 10: đoạn thực 段 食 (Skt. kavaḍīkāra āhāra; Pl.:
kabaḷikāro āhāro) có hai loại: thô (Skt. audārika, Pl.: olāriko) và tế
(Skt. sūkṣuma, Pl.: sukhumo): (…) như thức ăn Chư Thiên được gọi
là tế, vì không phải bài tiết.