Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Trường A Hàm · trang 861

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 861

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

860 TUỆ SỸ là Hậu Vân, hai là Vô Vân, ba là Ha-ha, bốn là Nại Hà, năm là Dương Minh, sáu là Tu-càn-đề, bảy là Ưu- bát-la, tám là Câu-vật-đầu, chín là Phân-đà-lợi, mười là Bát-đầu-ma. Vì sao gọi là địa ngục Hậu Vân? 40 Vì tội nhân trong ngục này tự nhiên sinh ra thân thể như đám mây dày, cho nên gọi là Hậu Vân. Vì sao gọi là Vô Vân? Vì chúng sinh chịu tội trong ngục này, tự nhiên thân thể sinh ra như một cục thịt nên gọi là Vô Vân. 41 Vì sao gọi là Ha-ha? Vì chúng sinh chịu tội trong ngục này, thường thì thân thể đau đớn, rồi rên la ‘ối ối!’, nên gọi là Ha-ha. Vì sao gọi là Nại Hà? Vì chúng sinh chịu tội trong ngục này, thường thân thể đau khổ vô cùng, không có nơi nương tựa, nên thốt lên ‘Sao bây giờ!’, nên gọi là Nại Hà! Vì sao gọi là Dương Minh? Vì chúng sinh chịu tội trong ngục này, thường thân thể, đau đớn vô cùng, muốn thốt lên lời nhưng lưỡi không cử động được, chỉ giống như dê kêu, nên gọi là Dương Minh. Vì sao gọi là Tu-càn- đề?42 Vì trong ngục này chỉ tồn là màu đen, cũng như màu hoa Tu-càn-đề, nên gọi là Tu-càn-đề. Vì sao gọi là Ưu-bát-la? Vì trong ngục này chỉ tồn là màu Ni-la-phù 尼羅浮, A-ha-phủ 阿呵不, A-ba-phù 阿波浮, A-la-lưu 阿羅留, Ưu-bát 優鉢, Tu-kiền 修揵, Liên hoa 蓮花, Câu-văn 拘文, Phân-đà-lị分陀利. T 24: Át-phù-đà頞浮陀, Nê-la-phù-đà泥羅浮陀, A-hô阿 呼, Hô-hô-bà 呼呼婆, A-tra-tra 阿吒吒, Tảo-kiền-đề-ca 搔 揵提迦, Ưu-bát-la 優鉢羅, Ba-đầu-ma 波頭摩, Bôn-trà-lê 奔茶梨, Câu-vật-đà拘牟陀. 40 Hậu Vân: mây dày; Skt. arbuda (Pl.: abbuda) ở đây được đọc là ambuda (mây) 41 Vô Vân: không mây; Skt. nirambuda, thay vì nirarbuda; xem cht. 19. 42 Tu-càn-đề 須 乾 提, Skt., Pl.: sugandha (hoặc sugandhi).

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.