Bản chủ
Trang 832
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
831
TRƯỜNG A HÀM – KINH THẾ KÝ
hoa trái xum xuê. Đất sinh [121a] cỏ mềm, màu như
đuôi lông công, mùi hương hoa bà-sư, 20 mềm mại như
lụa trời. Khi đạp chân xuống đất; đất lõm xuống bốn
tấc. Khi giở chân lên, đất trở lại như cũ, không có chỗ
khuyết rỗng. Có loại lúa tẻ mọc tự nhiên,21 không có
vỏ trấu, đủ các mùi vị. Bấy giờ có cây hương, hoa trái
xum xuê. Khi trái chín, trái tự nhiên nứt, tỏa ra mùi
hương tự nhiên; hương thơm sực nức. Lại có cây vải,
hoa trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho
ra các loại vải khác nhau. Lại có cây trang sức, hoa
trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các
đồ trang sức khác nhau. Lại có cây tràng hoa, hoa trái
xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các loại
tràng hoa khác nhau. Lại có cây dụng cụ, hoa trái xum
xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các thứ dụng
cụ khác nhau. Lại có cây nhạc cụ, hoa trái xum xuê.
Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các loại nhạc cụ
khác nhau.
“Khi Chuyển luân thánh vương cai trị ở đời, Long
vương A-nậu-đạt, vào lúc giữa đêm và cuối đêm, nổi
lên đám mây lớn dày đặc, giăng bủa khắp cả thế giới,
trút xuống cơn mưa lớn. Như trong khoảng thời gian
vắt sữa bò; mưa xuống thứ nước có tám vị, thấm ướt
khắp nơi. Đất không đọng nước, cũng không bùn
sình,22 thấm nhuần, đẫm ướt, sinh trưởng các loại cỏ
cây. Cũng như thợ kết hoa, rưới nước tràng hoa, khiến
20 Bà-sư hay bà-sư-ca 婆師迦; Pl.: vassika hay vessika (Skt.
vārṣika), hoa mùa mưa hay mùa hè (hạ sinh hoa 夏生花)
21 Tự nhiên canh mễ 自然粳米; Pl.: akaṭṭhapāko sāli , loại lúa
thơm mọc, vàng chín tự nhiên, không cần cày cấy. Xem T 1(5)
kinh Tiểu duyên.