Bản chủ
Trang 793
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
792
TUỆ SỸ
Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sinh
cư trú, gọi là một cõi Phật.”18
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Cõi đất nầy dày mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, 19
biên
giới vô hạn. Đất nương trên nước. Nước sâu ba ngàn ba
mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước ở trên gió; gió
dày sáu ngàn bốn mươi do-tuần, biên giới vô hạn.
“Này các Tỳ-kheo, nước của biển lớn ấy sâu tám
vạn bốn ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Núi chúa
Tu-di, phần chìm xuống biển là tám vạn bốn ngàn
do-tuần; phần trên mặt nước cao tám vạn bốn ngàn
do-tuần; chân núi sát đất, phần lớn là phần đất cứng
chắc. Núi ấy thẳng đứng, không có lồi lõm, sinh
các loại cây; cây tỏa ra các mùi hương, thơm khắp
núi rừng, là nơi mà phần nhiều các Hiền Thánh,
các trời Đại thần diệu. Móng chân núi tồn là cát
vàng ròng. Bốn phía núi có bốn mô đất rắn doi ra,
cao bảy trăm do-tuần, nhiều màu đan xen, được
tạo thành bởi bảy báu. Bốn mô đất thoai thoải, uốn
cong sát mặt biển.
“Núi chúa Tu-di có đường cấp20 bằng bảy báu; đường
cấp ở dưới núi rộng sáu mươi do-tuần; sát hai bên
đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can,21 bảy
18 Phật-sát 佛 剎, quốc độ Phật. Pl.: Buddhakhetta.
19 Do-tuần 由旬, đơn vị đo đường dài. Skt. = Pl.: yojana; 1 yojana =
4 hay 8 krośa (câu-lô-xá), khoảng 7 hay 8 dặm Anh.
20 Câu xá 11 (tr. 59b26): Núi Tô-mê-lô (Skt. Sumeru) có bốn tầng
bậc (Skt. pariṣaṇḍāś catasro, Hán: tầng cấp 層 級).
21 Hán: lan thuẫn 闌楯, lan can, với thanh gỗ ngang để vịn tay gọi là