Bản chủ
Trang 700
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
699
TRƯỜNG A HÀM – KINH LÕA HÌNH PHẠM-CHÍ
“Ca-diệp, thế nào là đạo, thế nào là tích, để Tỳ-kheo
ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết:
Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có
nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật? Này Ca-diệp, ở
đây Tỳ-kheo tu niệm giác chi, y tịch diệt, 13 y vô dục,
y xuất ly. Tu pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả
giác ý, y tịch diệt, y vô dục, y xuất yếu. 14 Ca-diệp,
đó là đạo, đó là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành
mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói
đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp,
nói đúng luật.”
II. NAN HÀNH ĐẠO
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, duy chỉ đạo ấy, tích ấy, Tỳ-kheo ở trong
đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn
Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói
đúng pháp, nói đúng luật. Nhưng với khổ hạnh ô uế,
có trường hợp được gọi là Bà-la-môn, có trường hợp
được gọi là Sa-môn.
1. Pháp khổ hạnh
“Những khổ hạnh ô uế nào, mà có trường hợp được gọi
là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn?
“Thưa Cù đàm, đó là: khỏa thân, 15 cởi bỏ y phục, rồi
13 Nguyên Hán: chỉ tức 止息.
14 Trong bản Pl.: con đường và phương pháp đó là Thánh đạo tám
chi.
15 Từ đây trở xuống, nói về các thực hành khổ hạnh, tham chiếu T
1(8) kinh Tán-đà-na ở trên.