Bản chủ
Trang 655
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
654
TUỆ SỸ
con bò đực, năm trăm con bò cái,6 năm trăm con bê
đực,7 năm trăm con bê cái, 8 năm trăm con dê đực 9 và
năm trăm con cừu,10 để dâng cúng.
Lúc bấy giờ,11 các Bà-la-môn, [97a] trưởng giả, Cư sỹ
trong thôn Khư-nậu-bà-đề nghe tin Sa-môn Cù-đàm,
con trai dòng họ Thích, đã xuất gia và thành đạo, từ
nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, đến nghỉ
ở rừng Thi-xá-bà. Ngài có tiếng tăm lớn, lan truyền
khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chân, Đẳng Chính
Giác, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, người đời,
Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn mà tự thân
chứng ngộ, rồi giảng pháp cho người, pháp ấy khoảng
đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều thiện xảo, đầy
đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. “Bậc chân nhân
như vậy, nên đến thăm viếng. Nay chúng ta hãy cùng
đi thăm viếng Ngài.” Nói như vậy rồi, họ kéo nhau ra
khỏi thôn Khư-nậu-bà-đề, từng đồn nối tiếp nhau,
cùng đến chỗ Phật.
Khi ấy Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu đang ở trên lầu
cao, từ xa trông thấy từng đồn người nối tiếp nhau,
bèn quay lại hỏi người hầu:
“Những người kia do nhân duyên gì mà từng đồn nối
Đặc ngưu 特 牛. Pl.: usabha, bò đực.
6 Tự ngưu 牸牛.
7 Đặc độc 特 犢. Pl.: vacchatara, bê đực.
8 Tự độc 牸 犢, Pl.: vacchatarī, bê cái.
9 Cổ dương 羖 羊. Pl.: urabbha, dê đực.
10 yết dương 羯 羊, Pl.: aja, sơn dương đực. Mỗi thứ bảy trăm con,
theo bản Pl., và chỉ kể 5 loại thú hy sinh. Bản Hán, 6 loại.
11 Chi tiết từ đây trở xuống, giống như trong kinh 22 “Chủng Đức”,
với một ít thay đổi nhỏ.