Bản chủ
Trang 613
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
612
TUỆ SỸ
Lai một cách chân thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
“Một số Sa-môn, Bà-la-môn y bản kiếp bản kiến đề
lên luận thuyết rằng ‘Bản ngã và thế gian, một nửa
thường hằng và một nửa không thường hằng.’29Các
Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó đối với bản kiếp bản
kiến chủ trương bản ngã và thế gian một nửa thường
hằng và một nửa không thường hằng, đều thuộc trong
bốn trường hợp này; chừng ấy không hơn.
1.“Hoặc có một thời gian, kiếp này bắt đầu chuyển
thành.30 Một số chúng sinh khác phước hết, mạng dứt,
hành dứt, từ trời Quang âm31 mạng chúng sinh vào Phạm
thiên trống không,32 tức thì ở nơi ấy nó sinh tâm yêu
thích,33 lại ước nguyện có các chúng sinh khác cùng sinh
đến chỗ này. Chúng sinh này sau khi sinh tâm yêu thích
và có ước nguyện như vậy rồi, lại có các chúng sinh khác
mà mạng, hành và phước đều hết, chết ở trời Quang âm
sinh đến Phạm thiên trống không. Chúng sinh này bèn
nghĩ: ‘Ở đây, Ta là Phạm, Đại phạm. Ta tự nhiên hiện
hữu, không có ai tạo ra ta. Ta biết hết thảy nghĩa thú.34 Ta
29 Hán: bán thường bán vô thường 半常半無常. Pl.: ekaccaṃ
sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ.
30 Trong bản Pl., trước đoạn này có một đoạn nói về thế giới chuyển
hoại (ayaṃ loko saṃvaṭṭati).
31 Quang âm thiên 光音天 (Cực quang thiên). Pl.: Ābhassara. T 21:
A-vệ-hóa-la thiên 阿衛貨羅天.
32 Không Phạm thiên 空梵天. Pl.: suññaṃ brahmaṇavimānaṃ,
cung điện Phạm thiên trống không.
33 Sinh ái trước tâm 生愛著心. Pl.: (…) anabhirati paritassanā upa-
pajjati, nó buồn chán (không vui), khởi lên ước nguyện. Trong bản
Hán, hình như đọc abhirati (hoan hỷ) thay vì ananbhirati.
34 Để bản: nghĩa điển 義 典, nên sửa lại nghĩa thú 義 趣. Xem cht.
41, kinh A-nậu-di, T 1(15). Pāli: aññadatthudaso; Pl.: aññadat-