Bản chủ
Trang 610
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
609
TRƯỜNG A HÀM – KINH PHẠM VÕNG
thường luận, 23 nói rằng: ‘Bản ngã và thế giới thường
tồn.’ Tất cả thuyết này được thâu tóm vào trong bốn
trường hợp. Y bản kiếp bản kiến mà nói: ‘Bản ngã và
thế giới thường tồn’, tất cả được thâu tóm vào trong
bốn trường hợp; chừng ấy không hơn.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia do duyên gì, y bản kiếp
bản kiến, khởi thường trú luận, nói rằng, ‘bản ngã và
thế giới thường tồn’, tất cả được thâu tóm trong bốn
trường hợp, chừng ấy không hơn?
1.“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương
tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định
tĩnh, vị ấy nhớ lại hai mươi thành kiếp và hoại kiếp.
Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường
tồn. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Tôi bằng
vô số phương tiện tinh cần mà nhập tâm định. Với
tâm định tĩnh ấy, tôi nhớ lại hai mươi thành kiếp và
hoại kiếp. Trong đó, chúng sinh không tăng, không
giảm, thường tụ hội, không tán.24 Tôi vì thế mà biết,
‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là quan điểm
thứ nhất. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản
kiến chủ trương bản ngã và thế giới thường tồn, thuộc
trong bốn quan điểm, chừng ấy không hơn.
23 Hán: thường luận 常論. Pl.: sassata-vādā, thuyết thường hằng,
vĩnh cửu.
24 Cf. D1 (i 14): so evaṃ āha: sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho
esikaṭṭhāyiṭṭhito, te ca sattā sandhāvanti saṃsaranti cavanti upa-
pajjanti, atthi tveva sassatisamaṃ... Vị ấy nói: “Bản ngã và thế
giới là vĩnh hằng, không sinh sản (như thạch nữ), đứng thẳng, bất
động như trụ đá. Các chúng sinh trong đó lưu chuyển, luân hồi,
chết rồi tái sinh, tuy nhiên chúng vẫn thường tồn.”