Bản chủ
Trang 582
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
581
TRƯỜNG A HÀM – KINH A-MA-TRÚ
không sung mãn. Cũng như nước suối trong mát từ
đỉnh núi chảy ra,62 không phải từ ngồi đến, mà nước
trong mát chảy ra ngay từ trong con suối ấy, trở lại
thấm nhuần chính nó, không đâu không cùng khắp.
Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, nhập nhị thiền, có hỷ lạc
do định sinh không đâu không sung mãn. Đó là hiện
thân chứng đắc lạc thứ hai.
c. Tam thiền
“Vị ấy lìa hỷ, an trú xả, có chính niệm, chính tri,63
thân cảm thọ lạc, điều mà Thánh nói là xả, an trú lạc,
có niệm, chứng nhập tam thiền. Vị ấy thân không hỷ,
có lạc thấm nhuần, cùng khắp, tràn đầy, không đâu
không sung mãn. Cũng như hoa ưu-bát, hoa bát-đầu-
ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị, mới nhô khỏi
bùn mà chưa ra khỏi nước, với cọng, rễ, cành, lá còn
chìm ngập trong nước, nước thấm không đâu không
cùng khắp. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, chứng nhập
tam thiền, [85c] lìa hỷ, an trú lạc, nhuần thấm khắp
thân, không đâu không cùng khắp. Đó là hiện thân
chứng đắc lạc thứ ba.
d. Tứ thiền
“Vị ấy xả khổ 64 và lạc; ưu và hỷ đã diệt từ trước,
không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, nhập tứ
thiền. Thân, tâm thanh tịnh, tràn đầy cùng khắp, không
chỗ nào không thấm nhuần. Cũng như một người đã
62 Cf. D.i. 74.: udakarahado ubbhidodako, nước phun lên từ hồ nước
sâu.
63 Hán: bĩ xả hỷ trú hộ niệm bất thố loạn 彼捨喜住護念不措亂.
64 Bản Hán: xả hỷ 捨喜, chép nhầm. Tứ thiền, xả khổ và lạc. Pāli:
sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā.