Bản chủ
Trang 525
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
524
TUỆ SỸ
8. Ngôn hành thanh tịnh
“Pháp Như Lai dạy còn có trên nữa; đó là ngôn thanh
tịnh.28 Ngôn thanh tịnh, tức là, Thế Tôn đối với các
Sa-môn, Bà-la-môn không nói lời hư dối vô ích; nói
không cốt để hơn, không vì phe đảng, lời nói nhu hòa,
không sai thời tiết, lời nói không phát suông. Đó gọi
là ngôn thanh tịnh. Pháp ấy vô thượng, không gì có
thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-
môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang
Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
9. Kiến đẳng chí
“Pháp Như Lai dạy còn có trên nữa, đó là kiến đẳng
chí.29 Nói kiến đẳng chí, là nói rằng, có Sa-môn, Bà-
la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần 30 chứng nhập
tâm định. 31 Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy quán từ đầu
đến chân, từ chân đến đầu, trong ngồi lớp da, chỉ tồn
những thứ bất tịnh như tóc, lông, móng, gan, phổi,
ruột, dạ dày, lá lách, thận tức là năm tạng, mồ hôi, mỡ,
tủy, não, phân, nước tiểu, nước mũi, nước mắt, chỗ
28 Ngôn thanh tịnh 言清淨. D 28 (iii 106): bhassa-samācara, ngôn
thuyết chính hành hay sự chân chính của ngôn ngữ.
29 Nguyên Hán: kiến định 見定, trạng thái tập trung đạt được do
thấy, tức do quán sát. D 28: catasso dassana-samāpattiyo: bốn
kiến đẳng chí, kiến chánh thọ. T 18: năm tam-ma-bát-để 三 摩
缽 底.
30 Hán: chủng chủng phương tiện 種種方便. Pl.: ātappamanvāya
padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya
sammāmanasikāramanvāya, bằng nhiệt thành, bằng tinh cần,
bằng nỗ lực, bằng không phóng dật, bằng chân chính tác ý.
31 Hán: nhập định ý tam-muội 入定意三昧. P.: cettosamādhiṃ phu-
sati.