Bản chủ
Trang 503
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
502
TUỆ SỸ
Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà
vị kia nói, văn cú chính, nhưng nghĩa không chính.’
Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng,
cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-
kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như
vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào
sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu
của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói
như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng
không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo
ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu.
Như vậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sinh tranh chấp,
đồng một Thầy học, cùng hòa hiệp như nước với sữa,
ở trong Chính pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp
sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi được an lạc, nếu có Tỳ-kheo trong khi có
Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy ‘Điều
được thuyết kia, văn cú chính, nghĩa chính.’ Tỳ-kheo
nghe như vậy, không nên nói là sai, mà hãy nên khen
ngợi Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Điều ngài nói là đúng. Điều
ngài nói là đúng.’ Vì vậy, này Tỳ-kheo, trong mười
hai bộ kinh17 hãy tự mình chứng nghiệm, rồi lưu bố
rộng rãi. Một là Quán kinh. Hai là Kì-dạ kinh. Ba là
17 Mười hai bộ kinh, 12 bộ phận của Thánh điển: 1. Quán kinh 貫
經 (Pl. sutta), 2. Kì-dạ 祇夜 (Pl. geyya), 3. Thọ ký 授記 (Pl..
veyyekāraṇa), g 4. Kệ 偈 (Pl., Skt. gāthā),5. Pháp cú 法 (udāna)
6. Tương ưng 相應 (Pl.. itivuttaka), 7. Bản duyên 本緣 (Pl.
jātaka), 8. Thiên bản 天本 (Pl. nidāna). 9. Quảng kinh 廣經 (Pl.
vedalla)10. Vị tằng hữu 未曾有 (Pl. abbhutadhamma), 11. Thí dụ
譬喻 (Pl. apadāna) 12. Đại giáo大教 (Pl. upadesa). Đoạn trên,
kinh 2 “Du hành” kể có chín.