Bản chủ
Trang 417
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
416
TUỆ SỸ
II. NGÃ KIẾN
“Này A-nan, nói rằng chấp ngã, cho đến mức nào thì
được gọi là ngã kiến? 20 Danh sắc và thọ đều được
chấp là ngã.
1. Y cứ thọ
“Có người nói, ‘thọ không phải ngã, ngã là thọ.’ Có
người nói, ‘thọ không phải ngã, ngã không phải thọ;
nhưng thọ pháp là ngã.’ Có người nói, ‘thọ không phải
ngã, ngã không phải thọ, thọ pháp không phải ngã;
nhưng thọ là ngã.’21
a. Thọ là ngã
“Này A-nan, đối với người thấy có ngã, nói rằng ‘thọ
là ngã’, hãy nói với người ấy: Như Lai nói có ba thọ
là cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không
Tỳ-kheo với tâm giải thốt như vậy mà có quan điểm rằng ‘Như Lai
tồn tại sau khi chết (…)’, người ấy sai lầm. (…). Nói rằng, Tỳ-kheo
với thắng trí giải thốt như vậy mà ‘không biết, không thấy quan điểm
như vậy;’ điều ấy sai lầm.”
20 Pāli: attā samanupassamāno, sự quan sát tự ngã.
21 Hán: (1) thọ thị ngã 受是我; (2) thọ phi ngã, ngã thị thọ 受非
我我是受; (3) thọ phi ngã, ngã phi thọ, thọ pháp thị ngã 受非
我我非受受法是我; (4) thọ phi ngã, ngã phi thọ, thọ pháp phi
ngã, đản thọ (bản khác: ái) thị ngã 受非我我非受受法非我但
受(愛)是我. T 26(97): (1) thọ là ngã; (2) thọ không phải là ngã;
nhưng ngã có cảm thọ, vì ngã là pháp có cảm thọ; (3) ngã hồn
tồn không được cảm thọ. Cf. D15 (ii 56): vedanā me attā ti: na
heva kho me vedanā attā, appaṭisaṃvedano me attā; na heva kho
pana vedanā attā, no pi appaṭisaṃvedano ime attā, attā me vedi-
yate, vedanādhammo hi me attā, (1) thọ là tự ngã của tôi; (2) thọ của
tôi không phải là tự ngã, tự ngã của tôi không cảm thọ; (3) không phải
thọ là tự ngã của tôi, cũng không phải tự ngã của tôi không có cảm