Bản chủ
Trang 416
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
415
TRƯỜNG A HÀM – KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG
“Này A-nan, các Tỳ-kheo nào ở trong pháp này mà
như thật chính quán, với tâm giải thốt vô lậu, Tỳ-
kheo ấy được gọi là tuệ giải thốt.18 Tỳ-kheo giải thốt
như vậy có thể biết Như Lai tồn tại hay không tồn tại
sau khi chết, cũng biết Như Lai vừa tồn tại vừa không
tồn tại sau khi chết, cũng biết Như Lai chẳng phải vừa
tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết. Vì sao? Này A-
nan, trong giới hạn ấy là ngôn ngữ, trong giới hạn ấy
là sự thích ứng, trong giới hạn ấy là hạn lượng, trong
giới hạn ấy là sự phô diễn, trong giới hạn ấy [61c] là
trí quán, trong giới hạn ấy là chúng sinh. Sau khi đã
hiểu biết tận cùng, Tỳ-kheo với tâm giải thốt vô lậu,
không còn có cái thấy biết về tri kiến như vậy. 19
齊是為限齊是為演說齊是為智觀齊是為眾生. D15.: ettātavā ad-
hivacanapatho, ettāvatā niruttipatho, ettāvatā paññattipatho, ettāvatā
paññāvacaraṃ, ettāvatā vaṭṭaṃ vattati itthattaṃ paññāpānāya
yadidaṃ nāmarūpaṃ saha viññaṇa aññamaññapaccayatā pavattati,
“trong giới hạn ấy là con đường của danh ngôn; … là con đường của
ngữ nghĩa, … là con đường của sự giả lập (khái niệm), … là cảnh giới
của trí tuệ, là sự lưu chuyển luân hồi để giả lập (có khái niệm) thế giới
này, tức là danh sắc cùng với thức xoay chuyển làm điều kiện cho
nhau.” Nói tóm, do mối quan hệ thức và danh sắc mà có ngôn ngữ,
khái niệm, nhận thức.
18 Tuệ giải thốt (Pl.: paññā-vimutti), chỉ vị A-la-hán do tuệ mà
đoạn trừ sở tri chướng, chứng đắc giải thốt; khác với vị A-la-hán
do định mà đoạn trừ phiền não chướng, chứng đắc giải thốt, và
được gọi là tâm giải thốt (Pl.: citta-vimutti).
19 Hán: (…) bất tri bất kiến như thị tri kiến 不知不見如是知見.
T 26(97): “Tỳ kheo với chính giải thốt như vậy không còn có
quan điểm về Như Lai tồn tại hay không tồn tại…”cf. D15: evaṃ
vimuttacittaṃ… bhikkhuṃ yo evaṃ vadeyya: ‘hoti tathāgato praṃ
maraṇā itissa diṭṭhī ti tadallaṃ (…) tadabhiññāvi m u t t a ṃ
bhikkhuṃ ‘na jānāti na passati itissa diṭṭhī’ ti, tadakallaṃ: “Ai nói,