Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Trường A Hàm · trang 408

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 408

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

407 TRƯỜNG A HÀM – KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG Hãy trả lời: Hành là duyên của thức.4 Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của hành? Hãy trả lời: Vô minh là duyên của hành. “Này A-nan, như vậy duyên vô minh có hành, duyên hành có thức, duyên thức có danh sắc, duyên danh sắc có sáu xứ, duyên sáu xứ có xúc, duyên xúc có thọ, duyên thọ có ái, duyên ái có thủ, duyên thủ có hữu, duyên hữu có sinh, duyên sinh có già, chết, lo, rầu, khổ, não, tập thành một khối đại hoạn. Đó là duyên của khối đại khổ uẩn vậy.6 3. Ý nghĩa các chi a. Từ sinh đến thọ “Này A-nan, duyên sinh có già-chết: điều này có ý nghĩa gì? Giả sử hết thảy chúng sinh không có sinh, 7 thì có già-chết không?”8 4 D15 ibid.: kiṃpaccayā viññāṇan’ti iti ce vadeyya, nāmarūpaccayā viññāṇan’ti iccassa vacanīyaṃ iti kho, ānanda, nāmarūpapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmaūpaṃ: duyên gì có thức? Duyên danh sắc có thức. “Duyên danh sắc có thức, duyên thức có danh sắc.” Cf. D 14. Lưu ý, trong các bản Pàli dẫn trên, không đề cập đến hai chi cuối là hành (saṅkhāra) và vô minh (avijja). Nhưng, bản Hán, trong phần quảng diễn sau, cũng chỉ truy lên đến “thức duyên danh sắc và danh sắc duyên thức”, không lên đến hành và vô minh.  Nguyên Hán: si . 6 D 25 ibid.: evam etassa kevalassa dukkhakkhandassa samudayo hoti, đó là sự tập khởi của khối đau khổ tồn diện này. 7 T 26(97): “giả sử không có sinh; cá…, chim…, trời..., người…, không có cái gì, không có bất cứ nơi đâu có sinh…” Cf. T 14. 8 D15, ibid.: sabbaso jātiyā asati jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṃ paññāyethā”ti? “Nếu hồn tồn không có sự sinh, hay sinh đã diệt, thì có thể có khái niệm về già-chết không?”

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.