Bản chủ
Trang 329
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
328
TUỆ SỸ
Khi ấy Xá-lợi-phất nói với các Tỳ-kheo:
“Nay trong thành Ba-bà này có Ni-kiền Tử mạng
chung chưa bao lâu, nhưng các đệ tử chia ra làm hai
bộ, luôn luôn tranh chấp nhau, tìm sở trường và sở
đoản của nhau, mắng nhiếc nhau, thị phi với nhau
rằng: ‘Ta biết pháp này. Ngươi không biết pháp này.
Ngươi theo tà kiến. Ta theo chính kiến. Ngươi nói
năng hỗn loạn, chẳng có trước sau, tự cho điều mình
nói là chân chính. Lập ngôn của ta thắng. Lập ngôn
của ngươi bại. Nay ta làm chủ cuộc đàm luận, ngươi
có điều muốn hỏi thì đến hỏi ta.’
“Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ nhân dân trong nước
những ai theo Ni-kiền Tử đều chán ghét những tiếng
cãi vã của bọn này. Đó là vì pháp ấy không chân chính.
Pháp không chân chính thì không có con đường xuất
ly.6 Ví như ngôi tháp đã đổ thì không còn tô trét gì 7
được nữa. Đó không phải là điều mà đấng Chính Giác8
đã dạy.
“Các Tỳ-kheo, duy chỉ Pháp vô thượng tôn của đức
Thích-ca ta là chân chính mới có thể có con đường
T 12: Ni-kiền-đà Nhạ-đề Tử 尼乾陀惹提子.
6 Hán: vô do xuất yếu 無 由 出 要; D 33: aniyyānike, không có khả
năng hướng dẫn.
7 Để bản: bất phục khả hủ 不可復圬. TNM: (…) trị 治. Nghi là
(…) y 依. Xem đoạn sau, kinh 11 “Thanh tịnh” (h. 73a19). Cf. T
26(196, 753b09): băng hoại vô trụ vô sở y hỗ 崩壞無柱無所依
怙. Cf. D 33: bhinnathūpe appaṭisaraṇe: tháp đã đổ, không thể
nương tựa.
8 Nguyên Hán: Tam-da-tam-phật 三 耶 三 佛; Pl.:
sammāsambuddha.