Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Trường A Hàm · trang 318

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 318

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

317 TRƯỜNG A HÀM – KINH TÁN-ĐÀ-NA con đường xuất ly.27 Thế là cấu uế. Người tu khổ hạnh kia tự khen mình hay, chê bai người khác. Thế là cấu uế. Người tu khổ hạnh kia mà giết, trộm, tà dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói ỷ ngữ, tham lam, tật đố, tà kiến điên đảo. Thế là cấu uế. Người tu khổ hạnh kia mà lười biếng, hay lãng quên,28 không tập thiền, không có trí tuệ, chẳng khác nào cầm thú. Thế là cấu uế. Người tu khổ hạnh kia mà cống cao, kiêu mạn, mạn, tăng thượng mạn. Thế là cấu uế. Người tu khổ hạnh kia mà không có tín nghĩa, lại không báo đáp, không trì tịnh giới, không hay tinh cần chịu nghe người khuyên răn, thường kết bạn bọn xấu làm điều xấu ác không dừng. Thế là cấu uế. Người tu khổ hạnh kia mà ôm nhiều sân hận, ưa làm xảo quyệt, cậy mình hiểu biết, tìm tòi hay dở của người, thường chấp tà kiến, biên kiến. Thế là cấu uế. Ni-câu-đà, ý ông nghĩ thế nào? Tu khổ hạnh như trên, đáng gọi là thanh tịnh ư?” Ni-câu-đà đáp: “Đó là bất tịnh chứ không phải [48b] tịnh.” Phật nói: “Nay Ta từ trong pháp cấu uế ấy của ông mà chỉ ra phần thanh tịnh, vô cấu cho ông hiểu.” Phạm-chí nói: “Xin hãy nói.” 27 Cf. D 25: tapassī bhojanesu vodāsaṃ āpajjati– ‘idaṃ me kha- mati, idaṃ me nakkhamatī’ti. so yañca khvassa nakkhamati, taṃ sāpekkho pajahati. yaṃ panassa khamati, taṃ gadhito mucchito ajjhāpanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjati, “Người tu khổ hạnh phân biệt thức ăn: thứ này tôi thích. Thứ này tôi không thích... bị trói chặt mà không thấy sự nguy hiểm (lỗi lầm), không biết sự xuất ly.” 28 Hán: hỷ vong ; bản Tống: hỷ vọng : ưa thích điều dối trá.

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.