Bản chủ
Trang 254
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
253
TRƯỜNG A HÀM – KINH TIỄU DUYÊN
“Này Bà-tất-tra, nên biết pháp thường của trời đất: sau
thời gian tối tăm thì có thiên tượng: mặt trời, trăng,
sao, xuất hiện ở không trung, rồi từ đó bắt đầu có ngày
đêm, tối sáng, năm tháng, số tuổi. Chúng sinh lúc này
chỉ nhờ ăn vị đất mà sống lâu trong thế gian. Người
nào ham ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người nào ăn
ít thì nhan sắc còn tươi nhuận, do đó mới bắt đầu có
sự tốt xấu, xinh đẹp. Người xinh đẹp thì sinh tâm kiêu
mạn khinh người xấu xí. Người xấu xí thì sinh tâm tật
đố ghét người xinh đẹp. Chúng sinh do đó thù nghịch
với nhau.
“Bấy giờ suối ngọt tự nhiên cạn khô. Về sau, cõi đất
tự nhiên lại sinh ra chất béo của đất 15 có đủ mùi vị
thơm tho ăn được. Chúng sinh lại lấy vị đất ấy mà ăn,
sống lâu trong thế gian. Người nào ham ăn nhiều thì
nhan sắc trở nên xấu, người nào ăn ít thì nhan sắc còn
tươi nhuận. Người đẹp đẽ sinh tâm kiêu mạn khinh
người xấu xí; người xấu xí sinh tâm tật đố ghét người
đẹp đẽ. Chúng sinh vì thế cùng nhau tranh tụng mãi.
Rồi thì, chất béo của đất không còn sinh như trước.
Về sau, đất này lại sinh thứ chất béo của đất dày mà
thô,16 tuy cũng thơm ngon ăn được nhưng không bằng
15 Hán: địa phì 地 肥. T. 10: địa bính 地 餅, bánh bằng đất, màu như
tư-na-ca 飡那迦, vị như mía. Pl.; (bhūmipa)ppaṭaka, loại bánh làm
từ sữa và gạo: bánh (sữa gạo) đất? Cf. Skt. parpaṭaka: bánh, cao
(Wogihara).
16 Thô hậu địa phì 麤厚地肥. T 10: sinh loại dây leo rừng 林藤, giống
như cành ca-lung-phạ-ca 迦籠嚩迦枝 có bốn màu. T 26(154): sinh
bà-la婆羅, màu như hoa gia-đàm 加曇華. D 27 ibid.: Pl.: badālatā…
seyyathāpi nāma kalambukā evameva pātủahosi, xuất hiện một loại
dây leo, giống như loại cỏ ống (một loại tre?). Sớ giải: kalambukā ti