Bản chủ
Trang 164
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
163
TRƯỜNG A HÀM – KINH DU HÀNH
hai. Lìa hỷ, an trú xả 158 chuyên niệm không loạn,159 tự
thân cảm giác lạc điều mà Hiền Thánh nói là xả, an
trú lạc với chính niệm niệm,160 chứng đắc thiền thứ
ba. Xả bỏ khổ và lạc, trừ diệt ưu và hỷ từ trước, không
khổ, không lạc, xả và niệm thanh tịnh,161 chứng đắc
thiền thứ tư.
“Rồi Vua Thiện Kiến rời khỏi giường ngự bằng bạc, ra
khỏi lầu vàng, đi đến lầu Đại chính, ngồi trên giường
lưu ly tu tập từ tâm, rải lòng từ đầy khắp một phương
này rồi đến một phương khác cũng vậy; an trú với
tâm tư câu hữu với từ trùm khắp, rộng lớn, không hai,
không hạn lượng, trừ mọi kết hận, tâm không thù ốn.
Tu tập bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế.
“Bấy giờ, Ngọc nữ thầm nghĩ: ‘Đã lâu không thấy
tôn nhan, tưởng nên đến hầu thăm một phen. Nay nên
diện kiến Đức Vua.’ Rồi bảo nữ Thiện Hiền [24a] nói
158 Nguyên Hán: xả hỷ thủ hộ 捨喜取護. Pāli, thành cú: pītiyā ca
virāgā upekkhako ca viharati, lìa bỏ hỷ, an trú xả. Upekkhaka,
thường dịch là xả, trong bản Hán trên được hiểu là hộ.
159 Hán: chuyên niệm bất loạn 專念不亂. Pl.: sato ca sampajāno,
chính niệm, chính tri. 160 Nguyên Hán: tự tri thân lạc hiền thánh sở
cầu hộ niệm lạc hành 自知身樂賢聖所求 護念樂行. Pāli, định cú:
sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti yaṃ tam āriyā ācikkhanti upekkha-
ko satimā sukhavihārī: cảm nghiệm lạc bằng tự thân, điều các bậc
Thánh nói là sự an trú lạc cùng với xả và niệm. Trong đây, ācikkhanti,
vừa có nghĩa nói, vừa có nghĩa tìm tòi. Pháp uẩn 7 (T 1537, tr. 484b):
Thanh thuyết ưng xả 聖說應捨, và giải thích: “ Những người tu định
đối với lạc này nên xả, không nên tham đắm vị ngọt của nó; an trú
xả với chính niệm, chính tri.” Hán: lạc hành 樂行; Pl.: sukhaviharī:
sống an lạc hay an trú trong cảm giác lạc.
161 Nguyên Hán: hộ niệm thanh tịnh 護念清淨, Pāli, thành cú:
upekkhāsāti parisuddhim, xả niệm thanh tịnh.