Bản chủ
Trang 693
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
220. KINH KIẾN
Tôi nghe như vầy:
Một thời sau khi Phật Niết-bàn không lâu, Tôn giả A-nan trú tại thành
Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Lúc bấy giờ có một Bà-la-
môn Dị học,1 vốn là bạn của Tôn giả A-nan trước khi xuất gia, sau giữa
trưa, thong dong tản bộ đi đến chỗ Tôn giả A-nan, chào hỏi xong, ngồi
xuống một bên, nói với Tôn giả A-nan rằng:
“A-nan, tôi có điều muốn hỏi, mong nghe cho chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“ Bà-la-môn, muốn hỏi cứ hỏi, Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.”
Dị học Bà-la-môn bèn hỏi:
“Sự kiện như vầy. Những quan điểm2 này bị gác lại3, bị loại bỏ, không
được giải thích tường tận, đó là, ‘Thế giới hữu thường hay vô thường; thế
giới hữu biên hay vô biên4; sinh mạng tức là thân hay sinh mạng khác
thân khác; Như Lai tồn tai sau khi chết hay Như Lai không không tồn tại
sau khi chết5; Như Lai vừa tồn tai sau khi chết vừa không tồn tai sau khi
chết; hay Như Lai cũng không phải tồn tai sau khi chết, cũng không phải
không tồn tai sau khi chết?’ Sa-môn Cù-đàm có biết rõ các quan điểm
này đúng như lý ưng phải biết chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“ Bà-la-môn, sự kiện như vầy. Đối với những quan điểm này, Thế Tôn là
Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, gác qua một bên, loại bỏ,
không giải thích tường tận; đó là, ‘Thế giới hữu thường, hay vô thường;
thế giới hữu biên hay vô biên; sinh mạng tức là thân hay sinh mạng khác
thân khác; Như Lai tồn tai sau khi chết hay Như Lai không không tồn tại
1 No: một người tà mạng 異邪命.
2 Kiến 見. Pāli: diṭṭhigata, kiến thú, xu hướng của kiến chấp.
3 Xả trí 捨 置, chỉ những vấn đề thuộc bất khả thuyết. Xem ý nghĩa, kinh 222 ở
sau. Pāli avyākāta, vô ký.
4 Nguyên Hán: thế hữu để, thế vô để 世有底世無底, dịch sát: “thế gian có đáy
hay không có đáy”.
5 Nguyên Hán: Như Lai chung, bất chung 如來終不終.