Bản chủ
Trang 612
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh bệ-ma-na-tu852
tai, hương nhận biết bởi mũi, vị nhận biết bởi lưỡi, xúc chạm biết bởi
thân. Này Ca-chiên, sắc hoặc có ái, hoặc không ái. Nếu có một người đối
với sắc này mà khả ý, xứng ý, thích ý, thỏa ý, mãn nguyện ý, người ấy
đối với sắc khác dù tối thượng, tối thắng vẫn không ham muốn, không tư
duy, không nguyện cầu. Người đó cho sắc này là tối thắng tối thượng.
Này Ca-chiên, thanh, hương, vị, xúc cũng lại như vậy. Này Ca-chiên, xúc
hoặc có ái, hoặc không ái. Nếu có một người đối với xúc này mà khả ý,
xứng ý, thích ý, thỏa ý, mãn nguyện ý, người đó đối với những xúc khác,
dù tối thượng, tối thắng vẫn không ham muốn, không tư duy, không
nguyện, không cần. Người đó cho xúc này là tối thượng, tối thắng vậy.”
Bấy giờ Dị học Tì-ma-na-tu chấp tay hướng về Phật bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm! Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay. Sa-môn Cù-đàm vì
tôi mà dùng vô lượng phương tiện nói, ‘Dục lạc, dục lạc đệ nhất’8. Bạch
Cù-đàm, cũng như do lửa cỏ mà đốt lửa cây, do lửa cây mà đốt lửa cỏ.
Cũng vậy, Sa-môn Cù-đàm vì [787b] tôi mà dùng vô lượng phương tiện,
nói: ‘Dục lạc, dục lạc đệ nhất.’”
Thế Tôn bảo:
“Thôi! Thôi! Này Ca-chiên! Ông là người trong lâu dài có sở kiến dị biệt,
nhẫn thọ dị biệt, sở thích dị biệt, ý dục dị biệt, ý hướng dị biệt9, cho nên
không thấu triệt ý nghĩa những điều Ta nói.
“Này Ca-chiên, đệ tử Ta đầu hôm và cuối đêm thường không nằm ngủ,
mà chánh định, chánh ý, tu tập đạo phẩm, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’
8 Dục lạc, dục lạc đệ nhất 欲樂欲樂第一. M 90: yaṃ kho ime pañca kāmaguṇe
paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ idaṃ vuccati kāmasukhaṃ. iti kāmehi
kāmasukham; kāmasukhā kāmaggasukham tattha aggam akkhayāti, “Lạc và hỷ nào
do duyên trên năn dục công đức mà sanh khởi, nó được gọi là dục lạc. Đó là, lạc
do bởi các dục, từ lạc do dục, lạc do dục tối thượng ấy ở đây được nói là tối
thượng.”
9 Dị kiến dị nhẫn dị lạc dị dục dị ý 異見異忍異樂異欲異意. Pāli, thành cú:
aññadiṭṭhena aññakhantikena aññarucikena aññatrayogena aññatrācariyakena, do
quan điểm dị biệt, tin tưởng dị biệt, sở thích dị biệt, sở hành dị biệt, tông sư dị
biệt.