Bản chủ
Trang 585
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
206. KINH TÂM UẾ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô
Độc.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào không nhổ sạch năm thứ tạp uế1 trong
tâm, không cởi bỏ năm sự trói buộc2 trong tâm, thì Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-
ni đó được nói đến với pháp tất thối.
“Thế nào là không nhổ sạch năm thứ tạp uế trong tâm?
“Ở đây có một hạng người hòai nghi Thế Tôn, do dự, không ngộ nhập,
không quyết đốn, không tịnh tín3. Nếu hạng người nào hòai nghi Thế
Tôn, do dự, không ngộ nhập, không quyết đốn, không tịnh tín; người đó
gọi là không nhổ sạch loại tâm tạp uế thứ nhất, nghĩa là đối với Thế Tôn4.
Cũng vậy, đối với Chánh pháp, đối với học giới, đối với giáo huấn5, hoặc
đối với những vị đồng phạm hạnh được Thế Tôn khen ngợi mà sân nhuế,
mạ lỵ, lăng nhục, xúc não, xâm hại, không ngộ nhập, không quyết đốn,
không tịnh tín, đó là loại tâm tạp uế thứ năm không được nhổ sạch, nghĩa
là đối với các vị đồng phạm hanh.
“Thế nào là không cởi bỏ năm sự trói buộc trong tâm?
“Ở đây có một hạng người mà thân chưa ly nhiễm, chưa ly dục, chưa ly
khát, chưa ly ái. Nếu ai mà thân chưa ly nhiễm, không ly dục, không ly ái,
1 Tâm trung ngũ uế 心中五穢; Tập dị 11 (tr. 416b29): ngũ tâm tài 五心栽 (năm cọc
nhọn của tâm). Pāli: pañca cetokhīla. M. 16 (i.101).
2 Tâm trung ngũ phược 心中五縛者. Tập dị 11 (tr. 418a3): ngũ tâm
phược]五心縛者. Pāli: cetasovinibandha.
3 Bất khai ý, bất giải ý, ý bất tĩnh 不開意不解意意不靜; Tập dị ibid: Bất ngộ
nhập, vô thắng giải, vô tịnh tín 不悟入無勝解無淨信. Ý bất tĩnh 意不靜, ý
không ổn định, không tin tưởng. Pāli: nādhimuccati na sampasīdati.
4 Tập Dị (sđd., nt.): “Đối với Đại sư mà cọc nhọn trong tâm chưa đoạn, chưa
biến tri.”
5 Giáo 教. Trong bản Pāli, thứ ba, Saṃghe kaṅkhati, nghi ngờ Tăng, thứ tư,
sikkhàya kaṅkhati, nghi ngờ học giới.