Bản chủ
Trang 555
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
203. KINH BÔ-ĐA-LỊ
[773a4] Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Na-nan-đại,1 trong khu rừng xồi của Ba-hòa-lị2.
Bấy giờ Bô-đa-lị3 Cư sĩ mặc chiếc áo trắng tinh, đầu quấn khăn trắng,
chống gậy, cầm dù, mang guốc thế tục, đi từ vườn này sang vườn khác,
từ quán nọ đến quán kia, từ rừng đến rừng, du hành khắp nơi, thong dong
tản bộ, nếu gặp các Sa-môn, Bà-ma-môn bèn nói rằng, “Chư Hiền nên
biết, tôi lánh tục, đoạn tục, xả các tục sự.” Các Sa-môn, Bà-ma-môn nói
lại bằng những lời dịu dàng rằng, “Vâng, Cư sĩ Bô-đa-lị lánh tục, đoạn
tục, xả các tục sự.”
Rồi Cư sĩ Bô-đa-lị trong khi du hành khắp nơi, thong dong tản bộ đến
chỗ Đức Phật, chào hỏi xong, chống gậy đứng ngay trước Phật.
Thế Tôn hỏi:
“Cư sĩ, có chỗ ngồi đó, muốn ngồi thì mời ngồi.”
Cư sĩ Bô-đa-lị bạch rằng:
“Này Cù-đàm, không thể như vậy! Không nên như vậy! Vì sao? Vì tôi
lánh tục, đoạn tục, xả các tục sự, mà Cù-đàm gọi tôi là Cư sĩ4 sao?”
Thế Tôn nói:
“Ông có hình tướng, biểu hiệu như Cư sĩ, cho nên Ta gọi ông là Cư sĩ.
Có chỗ ngồi đó, muốn ngồi thì mời ngồi.”
Thế Tôn lại ba lần nói rằng:
“Này Cư sĩ, có chỗ ngồi đó, muốn ngồi thì ngồi.”
Cư sĩ Bô-đa-lị cũng ba lần bạch Phật rằng:
“Này Cù-đàm, không thể như vậy! Không nên như vậy! Vì sao? Vì tôi
lánh tục, đoạn tục, xả các tục sự mà Cù-đàm gọi tôi là Cư sĩ sao?”
1 Na-nan-đại 那難大, tức Pali: Nalanda. Nhưng M 54: Aṅguttarāpesu.
2 Ba-hòa-lị-nại viên 波和利奈園 (Pāli: Pāvārikambavana). M 54: tại thôn
Āpaṇa, Aṅguttarāpa.
3 Nguyên Hán chép: Bô-lị-đa, tương đương Pāli: M.54. Poṭaliya. Đây y theôm
Pāli đọc lại.
4 Pl.: gahapati, gia chủ.