Bản chủ
Trang 546
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh trì trai783
không thu hoạch được đại lợi, không được đại quả, không được phát triển.
“Này Bà Cư sĩ, thế nào là Thánh trai tám chi10? Đa văn Thánh đệ tử khi
trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa sát sanh, đoạn
trừ sát sanh, dẹp bỏ dao gậy, có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho
tất cả cho đến côn trùng; Ngài đối với sự sát sanh tâm đã tịnh trừ. Tôi
cũng một ngày một đêm11 xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, dẹp bỏ dao
gậy, có tàm có quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả cho đến côn trùng.
[770c] Đối với việc sát sanh nay tôi tịnh trừ tâm ấy. Tôi do chi này mà
đồng đẳng không khác với A-la-hán12.’ Do đó nói là trai.
“Lại nữa, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy,
‘A-la-hán chân nhân trọn đời không lấy của không cho, đoạn trừ sự lấy
của không cho, những gì được cho rồi mới lấy, vui thích trong việc lấy
của được cho, thường ưa bố thí, tâm vui thích sự phóng xả, hoan hỷ,
không bỏn sẻn, không trông chờ báo đáp, không để sự trộm cắp che lấp
tâm mình, hay tự chế ngự. Vị ấy đối với việc không cho mà lấy, tâm đã
tịnh trừ. Tôi cũng một ngày một đêm* xa lìa sự lấy của không cho, đoạn
trừ sự lấy của không cho, những gì được cho mới lấy, vui thích trong việc
lấy của được cho, thường ưa bố thí, tâm vui thích sự phóng xả, hoan hỷ,
không bỏn sẻn, thường không trông chờ sự báo đáp, không để sự trộm
cắp che lấp tâm mình hay tự chế ngự. Đối với việc không cho mà lấy,
thứ ấy. Như vậy là lấy của không cho (idaṃ tassa adinnādānasmiṃ vāmi).
10 Thánh bát chi trai 聖 八 支 齋. Pāli: atthaṅga samannāgato upasatho hay
ariyūposatha.
11 Nguyên Hán: tận hình thọ 盡形壽, “suốt đời.” Bản Hán có sự nhầm lẫn ở đây.
Cái giơii sau hán dịch lại nói: “một ngày nay và một một đêm nay.” Giới bát
quan trai có thể tự phát nguyện trong một ngày một đêm No.87 và bản Pāli cũng
nói chỉ phát nguyện trong một ngày một đêm. Pāli: yāvajīvaṃ arahanto
pāṇātipātaṃ pahāya... ahaṃ pajja imañca rattiṃ imañca divasaṃ pāṇtipātaṃ
pahāya..., A-la-hán trọn đời không sát sanh... tôi nay một ngày một đêm không
sát sanh... Việt dịch theo đó sửa lại cho đúng.
12 Câu chót này theo văn mạch bản Hán, phải hiểu lời kết của Phật. Nhưng theo
bản Pāli nó nằm trong lời phát nguyện. Pāli: imināpaṅgena arahantaṃ anukaromi
uposatho ca me upavuttho, “Tôi noi gương A-la-hán với chi này, tôi sẽ thọ trì trai
giới.”