Bản chủ
Trang 545
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh trì trai 782
nuốt thức ăn như thế kia.’ Người ấy ở đây trải qua ngày đêm hoan lạc,
đắm trước trong dục vọng như vậy. Đó gọi là loại trai của mục đồng. Nếu
trì loại trai mục đồng như vầy, không thu hoạch được đại lợi, không được
đại quả, không có đại công đức, không được phát triển.
“Này Bà Cư sĩ, thế nào là loại trai của Ni-kiền6? Có người xuất gia học
theo Ni-kiền. Vị ấy khuyên người rằng, ‘Ngươi đối với chúng sanh ở
ngồi một trăm do-diên về phía Đông, để ủng hộ chúng sanh ấy, hãy loại
bỏ dao gậy. Cũng vậy, đối với phương Tây, phương Nam và phương Bắc,
ngồi một trăm do-diên mà có chúng sanh nào, vì để ủng hộ chúng sanh
ấy, hãy loại bỏ dao gậy.’ Người ấy khuyến khích sách tấn người khác
như vậy. Hoặc chúng sanh có tưởng được thủ hộ, hoặc chúng sanh không
có tưởng không được ủng hộ.7 ‘Ngươi vào ngày mười lăm là ngày thuyết
Biệt giải thốt, cởi bỏ y phục, để mình trần truồng, đứng ngay về phương
Đông, nói như vầy: Ta không có cha mẹ, không thuộc về cha mẹ. Ta
không có vợ con, không thuộc về vợ con. Ta không có nô tỳ, không
thuộc về nô tỳ.’ Này Bà Cư sĩ, người ấy khuyến khích sách tấn bằng lời
nói chân thật, nhưng ngược lại sự khuyến khích sách tấn trở thành những
lời nói hư dối. Người ấy ngày ngày gặp mặt cha mẹ mình và nghĩ rằng,
‘Đây là cha mẹ ta.’ Cha mẹ người ấy ngày ngày cũng thấy con mình,
cũng nghĩ rằng, ‘Đây là con ta.’ Người ấy gặp mặt vợ con và nghĩ rằng,
‘Đây là vợ con ta.’ Vợ con cũng thấy người ấy và cũng nghĩ rằng ‘Đây là
tôn trưởng của ta.’ Người ấy gặp mặt nô tỳ cũng nghĩ rằng, ‘Đây là nô tỳ
của ta.’ Nô tỳ cũng thấy người ấy và cũng nghĩ rằng, ‘Đây là chủ của ta.’8
Người ấy thọ dụng dục lạc này, không được cho mà thọ dụng, chứ không
phải được cho mà thọ dụng9. Đó gọi là loại trai của Ni-kiền, như vậy
6 Ni-kiền trai 尼犍齋. Pāli: nigaṇṭhūposatha. (A. i. 205).
7 A. ibid.: ekaccānaṃ pāṇānaṃ anuddāya anukampāya samāpenti, ekaccānamṃ
pāṇānaṃ nānuddāya nānukampāya samāpenti, “họ huấn giới thương tưởng đối với
một số sanh vật, không thương tưởng đối với một số sanh vật.
8 A. ibid. thêm: idaṃ tassa musāvādasmiṃ vadāmi, “Ta nói điều này người ấy nói
dối.”
9 A.ibid.: so tassā rattiyā accayena bhoge adinnaṃyeva paribhuñjati, người ấy, ngày
hôm sau, thọ dụng tài sản chưa được cho. Đại ý: hôm tước, khi trì trai, người ấy
nói không có gì là sở hữu của mình; nhưng ngày hom sau tự ý thọ dụng những