Bản chủ
Trang 504
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH SI TUỆ ÑÒA739
quạ, câu-lâu-la, câu-lăng-ca.7 Người ngu si ấy, vì lúc xưa tham trước thực
vị. Nó hành động với thân ác hành, khẩu và ý ác hành, do nhân duyên đó,
khi thân hoại mạng chung, sanh trong súc sanh, tức là lồi ăn phân ô uế.
Như vậy gọi là súc sanh khổ.
“Này các Tỳ-kheo, Ta đã dùng vô lượng phương tiện để nói cho các
ngươi về súc sanh, nói sự việc của súc sanh. Song nỗi khổ của súc sanh
không làm sao nói hết được. Chỉ nói là súc sanh duy chỉ có khổ mà thôi.
“Này các Tỳ-kheo, nếu như người ngu si kia ra khỏi đường súc sanh, trở
lại sanh lên làm người; đây là việc cực kỳ khó khăn. Vì sao? Vì kẻ kia
khi sanh trong lồi súc sanh không làm nhân nghĩa, không theo phép tắc
lễ nghi, không làm việc lành. Súc sanh lại ăn nuốt lẫn nhau. Con mạnh ăn
con yếu, con lớn nuốt con bé. Này Tỳ-kheo, như cõi đất này tràn đầy
những nước. Có một con rùa đui, sống lâu vô lượng trăm ngàn năm. Trên
mặt nước kia có miếng ván nhỏ, chỉ có một lỗ duy nhất, bị gió thổi trôi.
Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ sao? Con rùa đui kia có thể chui đầu nó
vào cái lỗ duy nhất của miếng gỗ nhẹ nhỏ kia chăng?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, có thể chui được, nhưng thật lâu, thật lâu và rất khó.
Thế Tôn [761c] bảo các Tỳ kheo:
“Này các Tỳ-kheo, con rùa đui kia hoặc trải qua một trăm năm, rồi nó từ
phía Đông đến, ngóc đầu lên một lần. Miếng ván nhỏ kia chỉ có một lỗ
lại bị gió thổi từ phương Đông dời qua phương Nam. Có một lúc con rùa
đui qua một trăm năm từ phương Nam đến, ngóc đầu lên một lần, thì
miếng ván một lỗ kia, lại bị gió thổi từ phương Nam dời đến phương Tây.
Hoặc có lúc con rùa đui đợi một trăm năm qua từ phương Tây đến, ngóc
đầu lên một lần, thì miếng ván có một lỗ kia, lại bị gió từ phương Tây
thổi dời đến phương Bắc. Hoặc lúc con rùa đui kia từ phương Bắc đến,
ngóc đầu lên một lần nữa, thì miếng ván có một lỗ kia lại bị gió thổi từ
phương Bắc dời tới các phương khác. Này các Tỳ-kheo, ý ông nghĩ sao?
Con rùa đui kia có chui vào được lỗ ván ấy chăng?”
Tỳ-kheo đáp:
7 Câu-lâu-la 拘樓羅, câu-lăng-ca 拘稜迦. M 129 chỉ kể bốn loại: kukkuṭā (gà),
sūkarā (lợn), soṇā (chó), siṅgalā (dã can).