Bản chủ
Trang 464
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH A-THẤP-BỐI699
ngự các căn, học tập theo thiện tri thức, sống tùy thuận an trú, đối với
trong hai quả chắc chắn sẽ đạt được một, hoặc ngay trong hiện tại được
cứu cánh trí, nếu còn hữu dư, đắc A-na-hàm. Vì Ta thấy vị Tỳ-kheo này
hành không phóng dật. Các vị Tỳ-kheo này Ta nói hành không phóng dật.
“Ta không nói tất cả Tỳ-kheo được cứu cánh trí, cũng không nói tất cả
các Tỳ-kheo ngay từ đầu được cứu cánh trí, song tuần tự học tập và thực
hành, nhận lãnh giáo huấn, chịu khiển trách, sau đó các Tỳ-kheo mới
được cứu cánh trí, cứu cánh trí mà các Tỳ-kheo chứng đắc này. 21
“Thế nào là [752b] tuần tự học tập và thực hành, nhận lãnh giáo huấn và
khiển trách, sau đó các Tỳ-kheo mới được cứu cánh trí, cứu cánh trí mà
các Tỳ-kheo chứng đắc này? Hoặc có tín giả liền tìm đến.22 Tìm đến rồi
liền phụng sự; phụng sự rồi liền nhất tâm nghe pháp; nhất tâm nghe pháp
rồi liền thọ trì pháp; thọ trì pháp rồi liền tư duy về pháp; tư duy về pháp
rồi liền chấp nhận23; chấp nhận rồi liền quán sát về pháp. Đệ tử Hiền
Thánh quán sát về pháp rồi thì tự thân tác chứng chân đế, và do tuệ có
tăng thượng quán24. Vị ấy liền nghĩ, ‘Chân đế này, tự thân ta chưa từng
tác chứng cũng không phải được tăng thượng quán bằng tuệ. Ta hãy tự
thân tác chứng chân đế này, và do tuệ mà tăng thượng quán. Như vậy
tuần tự học tập và thực hành, nhận lãnh giáo huấn và khiển trách, rồi sau
các Tỳ-kheo mới đắc cứu cánh trí, cứu cánh trí mà các Tỳ-kheo chứng
đắc này.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói rằng:
“Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu, có pháp được gọi là tứ cú25, Ta nói
cho các ngươi nghe, các ngươi có muốn biết không?”
A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu thưa:
21 M. i. 480: anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā aññārādhanā, tuần
tự học, tuần tự hành, tuần tự tụ rồi đật đến cứu cánh hồn tồn.
22 Pl. ibid.: saddhājāto upasaṇkamati; Sớ giải: Tín giả đi đến gần các vị sư trưởng
(garūnaṃ samīpaṃ gacchati).
23 Hán: bình lượng 評量. Pāli: dhammā nijjhānaṃ khamanti, hoan hỷ chấp nhận
pháp.
24 Pāli: paññāya naṃ ativijjha passati, do tuệ mà thấy pháp ấy một cách tinh mật.
25 Tứ cú 四句. Pl.: catuppadaṃ.