Bản chủ
Trang 361
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH NGÖU GIÁC SA-LA LÂM (I) 591
hương thơm ngát, ví như hoa trời. Hiền giả Xá-lợi-phất, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp rằng:
“Hiền giả Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo tùy dụng tâm tự tại, chứ không phải lệ
thuộc tâm9. [728a] Nếu muốn trú định nào10, vị ấy vào buổi sáng an trú11
định ấy. Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị
ấy an trú trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-
liên, ví như y phục của vua và các quan rất nhiều màu sắc rực rỡ, nếu họ
muốn mặc thứ nào vào buổi sáng, liền lấy mặc vào. Nếu họ muốn mặc
thứ nào vào buổi trưa hay buổi chiều, liền lấy mặc. Hiền giả Mục-kiền-
liên, cũng vậy, Tỳ-kheo tùy dụng tâm tự tại, chứ không phải lệ thuộc tâm.
Nếu muốn trú định nào, vị ấy vào buổi sáng an trú định ấy. Nếu muốn an
trú trụ định vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị ấy an trú trụ định ấy
vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, vị Tỳ-kheo như
vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn giả Xá-lợi-phất bảo rằng:
“Hiền giả Mục-kiền-liên, tôi và chư Hiền mỗi người đã nói theo sự hiểu
biết của mình. Hiền giả Mục-kiền-liên, chúng ta hãy cùng với chư Hiền
đi đến chỗ Phật để biết trong những điều vừa thảo luận ấy, vị nào khéo
nói.”
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại
Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-
việt-đa, Tôn giả A-nan, tất cả cùng đi đến chỗ Phật. Các Tôn giả đều cúi
đầu lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một bên. Tôn giả A-nan cũng cúi đầu lễ
sát chân Phật rồi lui đứng một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay có Hiền giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-
diếp, Hiền giả Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà, Hiền giả Ly-việt-
đa, Hiền giả A-nan, vào buổi sáng sớm tất cả đều đi đến chỗ con.
9 Pāli: cittaṃ vasaṃ vatteti, no... cittassa vasena vatteti, (Tỳ-kheo chế ngự tâm chứ
không phải bị tâm chế ngự).
10 Hán: trú chỉ 住 止; Pāli: vihārasamāpattiyā. Bản Hán, samāpatti (định, hay
đẳng chí) được hiểu là samatha, chỉ.
11 Hán: du hành 遊 行; Pāli: viharati.