Bản chủ
Trang 351
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH MAÕ AÁP (I) 579
giải thoát dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi liền biết là mình đã
giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều
cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Ta nói vị ấy là Sa-môn, là
Bà-la-môn, là Thánh, là Tịnh dục19.
“Thế nào gọi là ‘Sa-môn’? Là người đã đình chỉ20 các pháp ác bất thiện,
các lậu ô uế, là gốc rễ của sự hữu trong tương lai, là sự phiền nhiệt, là
nhân của khổ báo, của sanh lão bệnh tử. Đó gọi là Sa-môn.
“Thế nào gọi là ‘ Bà-la-môn’? Là người xa lìa21 các pháp ác, pháp bất
thiện, các lậu ô uế mà là gốc rễ của sự hữu trong tương lai, là sự phiền
nhiệt, là nhân của khổ báo, của sanh lão bệnh tử. Đó gọi là Bà-la-môn.
“Thế nào gọi là ‘Thánh’? Là người xa lìa22 các pháp ác, pháp bất thiện,
các lậu ô uế, làm gốc rễ của sự hữu trong tương lai, là sự phiền nhiệt, là
nhân của khổ báo, của sanh lão bệnh tử. Đó gọi là Thánh.
“Thế nào gọi là ‘Tịnh dục’? Là người đã tắm rửa sạch các pháp ác, pháp
bất thiện, các lậu ô uế, là gốc rễ của hữu trong tương lai, là sự phiền nhiệt,
là nhân của khổ báo, của sanh lão bệnh tử. Đó gọi là Tịnh dục. Đó gọi là
Sa-môn, là Bà-la-môn, là Thánh, là tịnh dục.”
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
q
19 Tịnh dục 淨 欲; Pāli: nahātaka, người đã tắm sạch.
20 Tức chỉ 息止. M 39 (i. 280): samaṇo...samitāssa honti pāpakā ākusalā dhammā,
Sa-môn..., là những người đã đình chỉ các pháp ác bất thiện. Theo đây, từ
samaṇa (Sa-môn) được giải thích là do động từ sammati: (làm cho) yên lặng, tĩnh
lặng, tĩnh chỉ, đình chỉ.
21 Viễn ly 遠離; M 39 ibid.: brāhmaṇo...bāhitāssa honti pāpakā ākusalā dhammā,
Bà-la-môn (brāhmaṇa) là những người đã loại ra ngoài các pháp ác bất thiện.
Theo đây, từ brāhmaṇa được giải thích là do động từ bāheti, cự tuyệt, tránh xa,
loại bỏ.
22 Viễn ly 遠 離; M 39 ibid.: āriyo...ārakāssa..., Thánh (āriya), là những người
cách xa... Theo đây, āriya do trạng từ ārakā, cách xa.