Bản chủ
Trang 316
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
178. KINH LẠP SƯ
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú tại thành Vương xá, trong rừng Trúc lâm, vườn
Ca-lan-đà.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Người thợ săn khi bẫy mồi nai, không có tâm như vầy ‘Mong cho nai
được béo mập, được tốt đẹp, được sức lực, được sung sướng, sống lâu.’
Nhưng người thợ săn bẫy mồi nai với tâm như vầy ‘Bẫy mồi là chỉ muốn
chúng đến gần để ăn; đã đến gần để ăn thì sẽ kiêu loạn phóng dật, mà đã
kiêu loạn phóng dật thì sẽ tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.’
Người thợ ăn bẫy mồi nai với tâm như vậy.
“Đàn nai thứ nhất đến gần đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần
để ăn, [718c] bèn sanh kiêu loạn phóng dật rồi do kiêu loạn phóng dật
nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ
nhất không thốt khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ hai suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất đã đến gần để ăn đồ
mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn, bèn sanh kiêu loạn phóng
dật, rồi do kiêu loạn phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc
thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thốt khỏi cảnh giới thợ săn
và quyến thuộc thợ săn. Nay ta đừng ăn đồ ăn của thợ săn, tránh xa chỗ
đáng sợ, nương nơi rừng vắng an tồn1, ăn cỏ uống nước được chăng?’
Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ hai liền bỏ mặc đồ mồi của thợ săn, tránh
xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an tồn, ăn cỏ uống nước. Đến
tháng cuối mùa Xuân2, cỏ nước đều hết, thân thể chúng rất gầy ốm, khí
lực hao mòn và rồi lại bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Như vậy là đàn nai thứ hai cũng không thốt khỏi cảnh giới của thợ săn
và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ ba lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ nhất và thứ hai, tất cả đều
không thốt khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta
1 Hán: vô sự xứ 無 事 處. Pāli: araññāyatana.
2 Hán: xuân hậu nguyệt 春後月. Pāli: gimhānaṃ pacchime māse, vào tháng cuối
mùa hạ.