Bản chủ
Trang 27
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh TỐN SỐ MỤC-KIỀN-LIÊN 236
nào được nói đến một cách chân chánh, thì này Mục-kiền-liên, ở trong
pháp luật của Ta, đây là điều được nói đến một cách chân chánh. Vì sao
vậy? Này Mục-kiền-liên, Ta đối với pháp luật này lần lượt thứ tự thực
hiện cho đến đạt thành cứu cánh.
“Này Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo niên thiếu vừa mới đến [652b] học đạo,
mới vào trong pháp luật này, Như Lai trước hết dạy rằng ‘Ngươi hãy đến
đây. Với thân, hãy thủ hộ mạng thanh tịnh; với miệng và ý, hãy thủ hộ
mạng thanh tịnh’.
“Này Mục-kiền-liên, khi Tỳ-kheo với thân, thủ hộ mạng thanh tịnh; với
miệng và ý thủ hộ mạng thanh tịnh rồi, Như Lai lại dạy tiến thêm rằng
‘Tỳ-kheo, hãy đến đây, hãy quán nội thân như thân, cho đến quán thọ 3,
tâm và pháp như pháp’.
“Này Mục-kiền-liên, khi Tỳ-kheo quán thân như thân, cho đến quán thọ,
tâm và pháp như pháp rồi, Như Lai lại dạy tiến thêm ‘Tỳ-kheo, hãy đến
đây, hãy quán thân như thân, đừng niệm tưởng những niệm tương ưng
với dục; cho đến quán thọ, tâm và pháp như pháp, đừng niệm tưởng
những niệm tương ưng với dục’.
“Này Mục-kiền-liên, khi Tỳ-kheo quán thân như thân, không niệm tưởng
những niệm tương ưng với dục, cho đến quán thọ, tâm và pháp như pháp,
không niệm tưởng những niệm tương ưng với dục, Như Lai dạy tiến
thêm ‘Tỳ-kheo, hãy đến đây, hãy thủ hộ các căn, thường niệm tưởng sự
khép kín4, niệm tưởng muốn minh đạt, thủ hộ tâm mà được thành tựu,
hằng khởi chánh tri. Khi mắt thấy sắc, không chấp thủ tướng của sắc,
không đắm nhiễm vị5 của sắc. Do nguyên nhân gì6 mà khi nhãn căn
3 Trong bản Hán: quán giác 觀覺.
4 Thường niệm bế tắc 常念閉 塞. Có lẽ tương đương Pāli: indriyesu guttadvāro,
canh chứng cửa nơi các căn.
5 Hán: bất vị sắc 不味色. Pl.: mā’ nuvyañjanaggahāhī, chớ nắm bắt tuy tướng (các
chi tiết nhỏ khi nhìn thấy sắc). Pl. anuvyañjana: tùy tướng, tùy hình hảo;nhưng
bản Hán hiểu từ vyañjana là vị để nếm, gia vị hương vị.
6 Vị phẫn tránh cố 謂忿諍故, vì sự phẫn nộ và tranh cãi; Hán dịch có thể nhầm
vì vô nghĩa trong đoạn mach này. Pāli: yatvādhikaraṇam enam cakkhundriyaṃ
asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāsutvā tassa