Bản chủ
Trang 255
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh ANH VŨ 474
Tu-bồ-đề thuyết kệ
Thực hành chơn không này
Bỏ đây, trụ tịch tịnh.
Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng
hành.21 q
170. KINH ANH VŨ (2)
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp
Cô Độc.
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc trời vừa sáng, Đức Thế Tôn mang y
cầm bát vào nước Xá-vệ. Trong khi đi khất thực, Thế Tôn đi qua nhà của
Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử22. Lúc bấy giờ, Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử có
chút việc phải làm nên đi khỏi, không có ở nhà.
Khi ấy, tại nhà Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử có một con chó trắng23 đang ăn
cơm trong cái chậu bằng vàng, trên một cái giường lớn. Rồi con chó
trắng trông thấy Đức Phật từ xa đi lại. Thấy Ngài, nó liền sủa. Đức Thế
Tôn nói với con chó trắng rằng:
“Ngươi không nên làm như vậy. Nhà người hết ó [704a] rồi lại sủa.”
Chó trắng nghe nói, giận dữ, từ trên giường nhảy xuống, đến bên đống
cây, nằm buồn thiểu não.
Sau đó, Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử trở về nhà, thấy chó trắng có vẻ giận
dữ, đã từ trên giường nhảy xuống, đến bên lùm cây nằm buồn thiểu não,
ông mới hỏi người nhà rằng:
21 Bản Hán, hết quyển 43.
22 Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử 鸚鵡摩納都提子. No.79: Anh Vũ Ma-lao Đâu-la
Tử 鸚鵡摩牢兜羅子; No.78: Đâu-diệu Tử Cốc 兜調子谷; No.80: Điêu-đề-đa
Tử Thủ-ca Trưởng giả 忉提耶子首迦長者; No.81: Đâu-nễ-dã Tử Du-ca
Trưởng giả 兜儞野子輸迦長者; Pāli: niên thiếu Bà-la-môn tên là Subha, con
trai của Todeyya. Xem kinh 152.
23 Bạch cẩu 白狗. No.78: con chó tên Loa 螺; No.79 nó tên là Bối 貝 (in lầm là
cụ 具) và No.81 gọi nó là Thương-khư 傷 佉, phiên âm tương đương Pāli là
Saṅkha: con sò.