Bản chủ
Trang 21
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh THÖÔNG-CA-LA 230
Ma-nạp Thương-ca-la đáp:
“Bạch Cù-đàm, theo sự hiểu biết của con đối với điều mà Sa-môn Cù-
đàm nói, thì đệ tử Sa-môn Cù-đàm ấy, với các dòng tộc khác nhau cạo bỏ
râu tóc, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình để học đạo, do bởi sự
học đạo ấy mà thật sự hành trên vô lượng phước tích, chứ không chỉ hành
trên một phước tích.”
Thế Tôn lại nói với Thương-ca-la:
“Có ba thị hiện là, như ý túc thị hiện, chiêm niệm thị hiện, giáo huấn thị
hiện. 7
“Ở đây, nếu có một Sa-môn, Bà-la-môn có đại như ý túc, đại oai đức, đại
phước hựu, đại oai thần, đối với như ý túc, tâm được tự tại, hành vô
lượng công đức của như ý túc như vầy; nghĩa là phân một thân làm thành
nhiều thân, hợp nhiều thân làm thành một thân, một thì trụ trên một, được
biết, được thấy8; đi xuyên vách đá mà không bị trở ngại, cũng như đi
trong hư không; chìm xuống đất như chìm xuống nước, đi trên nước như
đi trên đất; ngồi kiết già mà bay trên không như chim bay liệng; với mặt
trời và mặt trăng này vốn có đại như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần
mà có thể đưa tay bắt nắm; thân cao đến trời Phạm thiên. Này Ma-nạp,
đó là thị hiện bằng như ý túc.
“Này Ma-nạp, thế nào là chiêm niệm thị hiện? Hoặc có một hạng Sa-môn,
Bà-la-môn do nơi tướng trạng của người khác mà chiêm đoán được ý
tưởng của họ, rằng ‘Nó có ý nghĩ như thế này, nó có ý nghĩ như thế kia,
nó thật sự có ý nghĩ’; họ chiêm đoán nhiều vô lượng chứ không chiêm
đoán ít,9 nhưng tất cả thảy đều chắc thật, chứ không phải là những giả
thiết viễn vông. Hoặc giả không do nơi tướng trạng của người khác để
7 Tam thị hiện: như ý túc thị hiện, chiêm niệm thị hiện, giáo huấn thị hiện
三示現 如意足示現 占念示現 教訓示現. Xem No 1(24): kinh Kiên cố; Tập
Dị 6 (No.1536, tr.389 b), ba thị đạo: thần biến thị đạo, ký tâm thị đạo, giáo giới
thị đạo. Pāli: tini pātihāriyānā: iddhi, ādesanā, anusāsanā.
8 Hán: nhất tắc trụ nhất, hữu tri hữu kiến 一 則 住 一 有 知 有 見. Nghĩa không
rõ. Tập Dị (nt): hoặc ẩn hoặc hiện. Pāli: āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ.
9 Pl.: so bahuṃ cepi ādisati tatheva taṃ hoti no aññathā, họ nói ra nhiều điều và
điều ấy là như vậy, không khác.