Bản chủ
Trang 209
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh PHÂN BIỆT LỤC XỨ 425
hướng tất cả phương.’ Như vậy là phân biệt lục xứ.
“Nói rằng, ‘sáu xứ nên biết là bên trong’, do nhơn gì mà nói như thế? Đó
là :xứ là mắt; xứ là tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nói rằng ‘sáu xứ nên biết bên
trong’ là nhơn đó mà nói.
“Nói rằng ‘Sáu xúc xứ nên biết là bên trong’, do nhơn gì mà nói như vậy?
Đó là xúc con mắt thì thấy sắc, xúc lỗ tai thì nghe tiếng, xúc của mũi thì
ngửi mùi, xúc của lưỡi thì nếm vị, xúc của thân thì cảm giác, xúc bởi ý
thì biết pháp. Nói rằng ‘sáu xúc xứ nên biết bên trong’ là nhơn đó mà nói.
“Nói rằng ‘Mười tám ý hành nên biết là bên trong’, do nhơn gì mà nói
như vậy? Đó là Tỳ-kheo mắt đã thấy sắc rồi phân biệt sắc mà an trụ nơi
hỷ, phân biệt các sắc mà an trụ nơi ưu, phân biệt các sắc mà an trụ nơi xả.
Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; ý đã biết pháp rồi, phân biệt pháp mà an
trụ nơi hỷ, phân biệt pháp mà an trụ nơi ưu, phân biệt pháp mà an trụ nơi
xả. Đó gọi là phân biệt sáu hỷ, phân biệt sáu ưu, phân biệt sáu xả. Tổng
thuyết là mười tám ý hành. Nói rằng ‘mười tám ý hành nên biết là bên
trong’ là nhơn đó mà nói.
“Nói rằng ‘Ba mươi sáu loại đao kiếm nên biết bên trong’, do nhơn gì mà
nói như vậy? Có sáu hỷ y trên đắm trước, có sáu hỷ y trên vô dục7; có sáu
ưu y trên đắm trước, có sáu ưu y trên vô dục; có sáu xả y trên đắm trước,
có sáu xả y trên vô dục.
“Thế nào là sáu hỷ y trên đắm trước? Thế nào là sáu hỷ y trên vô dục?
Mắt thấy sắc rồi phát sanh hỷ, nên biết, có hai loại, hoặc y trên đắm trước,
hoặc y trên vô dục.
“Thế nào là hỷ y đắm trước? Sắc được biết bởi mắt, khả hỷ, ý niệm, sắc
6 Hán: điều ngự sĩ, chế ngự hay huấn luyện con người và đánh xe đưa con người
đến chỗ an ổn. Pāli: so vuccati yoggācariyānaṃ anuttaro purisadammasārathī ti, vị
ấy được gọi là vị hướng đạo và huấn luyện con người, cao cả nhất trong tất cả
những người đánh xe.
7 Y trước y vô dục 依著依無欲. Tỳ-bà-sa ibid.: Y đam thị y xuất ly
依耽嗜依出離. Pāli: gehaseta, nekkhammasita: y tại gia và y xuất gia. Do từ
nguyên trong Skt. hay đồng âm của từ gaha (Pāli) có nghĩa là nhà (Skt. gṛha) và
sự nắm chặt (Skt. graha) nên có những nghĩa khác nhau như thế.