Bản chủ
Trang 208
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
163. KINH PHÂN BIỆT LỤC XỨ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm vườn Cấp
Cô Độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết pháp cho các ngươi, phần đầu thiện,
phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa, có văn, đầy đủ thanh
tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó là phân biệt sáu xứ. Các ngươi hãy lắng
nghe, khéo suy tư và ghi nhớ!”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, chúng con xin vâng lời.”
Đức Phật, bảo rằng:
“Này các Tỳ-kheo, sáu xứ, nên biết, là bên trong vậy; sáu xúc xứ1 nên
biết là bên trong; mười [692c] tám ý hành2 nên biết là bên trong; ba mươi
sáu đao kiếm3 nên biết là bên trong. Trong đó đoạn trừ cái kia, thành tựu
cái này, vô lượng thuyết pháp, nên biết, là bên trong. Có ba niệm trụ4, là
những điều mà bậc Thánh tu tập; sau khi tu tập mới có thể giáo hóa đồ
chúng5, đó là bậc Vô thượng Điều ngự con người6, là điều ngự người thú
1 Lục cánh lạc xứ 更樂處. Pāli: cha phassakayā.
2 Thập bát ý hành 十八意行. Pāli: aṭṭhādasa manopavicārā. Xem kinh 62.
3 Tam thập lục đao 三十六刀. Pāli, M 137 (iii. 217): chattiṃsa sattapadā, 36 cú
(phạm trù), hay dấu chân, của chúng sanh; 36 loại chúng sanh. Trong bản Hán,
đọc là sattha (đao kiếm) thay vì satta (hữu tình). Tỳ-bà-sa 139 (No.1545, tr.
718a25): Tam thập lục sư cú 三十六師句. Pāli: Sattapadā (36 cú nghĩa, hay
phạm trù, về chúng sanh). Cả ba bản đọc theo ngữ nguyên khác nhau. Pāli: satta,
chúng sanh. Bản Hán này, đao kiếm: do Skt. śastra (Pāli: sattha), Tỳ-bà-sa; Skt.
śāstra: đạo sư (Pāli: sattha).
4 Tam ý chỉ 三 意 止. Pāli: tayo satipaṭṭhānā, ba niệm trú.
5 Tham chiếu Pāli: tatr’idaṃ nissāya idaṃ pajahatha. tayo satipaṭṭhānā yad ariyo
sevati, yad ariyo sevamāno satthā gaṇaṃ anusāsituṃ arahati, “trong đây, y trên cái
này, các ngươi hãy đoạn trừ cái này; có ba niệm trụ mà bậc Thánh tập hành, và
khi tập hành nó bậc Thánh xứng đáng là Đạo sư giáo huấn đồ chúng”.