Bản chủ
Trang 200
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh phaân bieät luïc giôùi416
mà nói.
“Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có bốn trụ xứ13, do nhơn gì mà nói
như thế? Là chân đế trụ xứ, huệ trụ xứ, thí xả trụ xứ và tịch tĩnh trụ xứ.
Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có bốn trụ xứ là do nhơn đó mà nói.
“Này Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ? Tỳ-kheo
phân biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có nội địa giới,
được chấp thọ nơi hữu tình14. Nội địa giới là thế nào? Là tóc, lông,
móng, răng, da dày, da non, thịt, xương, gân, thận, tim, gan, phổi, lá
lách, ruột già, bao tử, phổi, tương tự như thế, trong thân này còn những
thứ khác nữa. Những gì được thâu nhiếp trong thân thuộc về chất cứng,
tính cứng ở bên trong, được chấp thọ nơi hữu tình.’ Tỳ kheo, đó là nội
địa giới. Này Tỳ-kheo, dù là nội địa giới hay ngoại địa giới đều gọi
chung là địa giới. Tỳ-kheo đó bằng trí tuệ quán biết như thật rằng ‘Tất
cả những cái ấy không phải là sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu
của những cái ấy. Những cái ấy cũng không phải là tự ngã15.’ Tâm vị
ấy không nhiễm trước địa giới ấy. Đó là Tỳ-kheo không buông lung trí
tuệ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ. Tỳ-kheo phân biệt thân giới
như thế này: ‘Nay thân này của ta có nội thủy giới, được chấp thọ nơi
hữu tình. Nội thủy giới là gì? Não tủy16, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, mủ,
máu, mỡ, tủy, nước giải, đờm, nước tiểu, tương tự như thế, trong thân
này còn có nhiều thể khác nữa. Những gì được thâu nhiếp trong thân,
thuộc về chất nước, tính nước nhuần thấm ở bên trong, được chấp thọ nơi
hữu tình.’ Tỳ kheo, đó là nội [691a]thủy giới. Này Tỳ-kheo, nội thủy
giới hay ngoại thủy giới đều gọi chung là thủy giới. Tỳ-kheo ấy bằng trí
13 Tứ trụ xứ 四住處. Pāli: caturādhiṭṭhāno, bốn y chỉ, sự xác lập: paññādiṭṭhāno
(tuệ y chỉ), saccādhiṭṭhāno (chân đế y chỉ), cāgāditthāno (huệ thí y chỉ),
upasamādhiṭṭhāno (tịch tĩnh y chỉ).
14 Thọ ư sanh 受於生. Cf. Câu-xá 1 (tr. 2c11 ): hữu chấp thọ 有執受. Tì-bà-sa 52
(272a18). M. 140: ajjhattaṃ paccattaṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ upādinnaṃ, (những
gì) thuộc bên trong, thuộc cá nhân, thô cứng, có tính cứng, được chấp thủ.
15 Hán: phi thần 非神. Pāli: n’etaṃ mama, n’eso ‘ham asmi. na me sattā, “cái này
không là của tôi; tôi không là cái này; cái này không là tự ngã của tôi”.
16 Bản Cao-li: não mạc. Plā: pitta, mật.