Bản chủ
Trang 18
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
143. KINH THƯƠNG-CA-LA
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp
cô độc.
Bấy giờ, Ma-nạp Thương-ca-la1 sau giữa trưa, thong dong tản bộ, đi đến
chỗ Phật, chào hỏi xong, ngồi xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm, con có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho mới dám
trình bày”.
Thế Tôn nói:
“Ma-nạp, muốn hỏi gì cứ hỏi”.
Ma-nạp Thương-ca-la bèn hỏi:
“Bạch Cù-đàm, Bà-la-môn đúng như pháp mà hành khất tài vật, tự mình
trai tự, hoặc dạy người khác trai tự. 2 Bạch Cù-đàm, nếu tự mình trai tự
hay dạy người khác trai tự, những người ấy đều hành trên vô lượng
phước tích3, vì do nơi trai tự vậy. Đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, với các
dòng tộc khác nhau, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình để học đạo, tự chế ngự bản thân, tự tịch tịnh bản
thân, tự cứu cánh tịch diệt bản thân.4 Như vậy, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm,
với các dòng tộc lhác nhau, chỉ hành trên một phước tích chứ không hành
trên vô lượng phước tích, do bởi sự học đạo vậy.”
Bấy giờ Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu Phật, rồi Tôn giả A-nan
hỏi:5
1 Thương-ca-la Ma-nạp 傷歌邏摩納. Pāli: Saṅgārava, một Bà-la-môn trẻ, hình
như là bạn của Tôn giả A-nan trước khi xuất gia.
2 Hán: trai 齋; Pāli (A. i. 168): yaññaṃ yajāmapi yajāpemapi, tự mình cử hành tế
đàn, cũng bào người cử hành tế đàn..
3 Phước tích 福 跡. Pāli:anekasārīrikaṃ puññappaṭipadaṃ paṭipannā honti, họ thực
hành dẫn đến phước đức cho nhiều người.
4 Pl.: ekam attānaṃ dameti, ekamattānaṃ sameti ekamattānaṃ parinibbāpeti, chỉ chế
ngự một tư ngã, an tịnh một tự ngã, niết-ban cho một tự ngã.
5 Bản Hán thiếu một đoạn trong Pāli: Phật hỏi Saṇgārava về ích lợi của tế đàn
và ích lợi của người tu tập để cọng trú với Phạm thiên, do đó dẫn đến câu hỏi