Bản chủ
Trang 169
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh A-LAN-NA 383
ham muốn, không ăn và già lão1, ngồi ra không còn tai hoạn nào khác.
“Này các Tỳ-kheo, lúc con người thọ tám vạn tuổi, có vua tên là Câu-lao-
bà2 làm Chuyển luân vương, thông minh, trí tuệ, có bốn loại quân chỉnh
trị thiên hạ, tự do, tự tại, là pháp vương đúng như pháp, thành tựu bảy
báu. Bảy báu đó là luân báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ
báu và tướng quân báu. Đó là bảy báu. Vua có đủ một ngàn người con,
dung mạo khôi ngô, dõng mãnh, không sợ, hàng phục được kẻ khác, chắc
chắn thống trị tồn cõi đất này, cho đến biển cả, không dùng đao gậy, chỉ
dùng pháp giáo hóa, khiến dân an ổn.
“Này các Tỳ-kheo, vua Câu-lao-bà có vị Bà-la-môn tên A-lan-na đại
trưởng giả3, được cha mẹ nuôi lớn, thọ sanh thanh tịnh cho đến bảy đời
cha mẹ không tuyệt chủng tộc, đời đời không bị xấu, học rộng, thông
suốt, tụng đọc hết bốn loại kinh điển, thấu triệt nhân duyên, chánh văn,
truyện giải trí thứ năm, và cú thuyết.4 Bà-la-môn A-lan-na có vô lượng
trăm ngàn Ma-nạp ma. Bà-la-môn đã ở nơi yên tĩnh truyền dạy kinh thư
cho vô lượng trăm ngàn Ma-nạp ma.
“Bấy giờ Bà-la-môn A-lan-na sống một mình ở nơi yên tĩnh, tĩnh tọa tư
duy, đã suy nghĩ rằng: ‘Thực là kỳ lạ, thực là kỳ lạ! Sanh mạng con
người thực hành quá ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác. Do đó, cần
phải làm các việc thiện, cần tu phạm hạnh, vì đã sanh ra không thể không
chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp lẽ,
việc thiện, việc tốt lại không thực hành, cũng không cầu mong. Có lẽ ta
[683a] nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình, xuất gia học đạo.’ Thế rồi, Bà-la-môn A-lan-na đi đến
chỗ các Ma-nạp ma thuộc nhiều nước khác nhau và nói:
1 Các thứ bịnh, kể theo bản Pāli: sītaṃ uṇhaṃ jigucchā pipāsā uccāro passavo, lạnh,
nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện.
2 Câu-lao-bà 拘 牢 婆. Pāli: Koravya, xem kinh 132 (Lại-tra-hòa-la) ở trên.
3 A-lan-na 阿 籣 那; phiên âm gần với Aranemi trong A. 7. 69. Sunetta, được kể
chung với bảy tôn sư thời cổ, giảng dạy pháp dẫn đến cộng trú trong thế giới
Phạm thiên (brahmalokasahavyatāya dhammaṃ desesi). Nhưng nội dung tư duy thì
đồng nhất với của Araka (thứ bảy trong bảy tôn sư thời cổ kể trong Sunetta)
trong A.7.70.
4 Xem cht. kinh 63.