Bản chủ
Trang 129
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh BÀ-LA-BÀ ÑƯƠØNG 342
ý, yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Ta, không phải với ý nghĩ
rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm thuộc chủng tộc rất cao, còn ta chủng tộc quá thấp.
Sa-môn Cù-đàm tài bảo rất nhiều, còn ta tài bảo quá ít. Sa-môn Cù-đàm
hình sắc rất đẹp, còn ta hình sắc thô kịch. Sa-môn Cù-đàm có oai thần
lớn, còn ta oai thần quá ít. Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ thiện còn ta có trí
tuệ ác.’ Nhưng này Bà-tư-tra, vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-là chỉ vì yêu
kính, tôn trọng Pháp và cúng dường Pháp, vì phụng sự Pháp cho nên đối
với bản thân Ta, mà hạ ý, yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự
Ta.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo rằng:
“Này Bà-tư-tra, có một lúc tất cả thế gian này đều hoại diệt. Khi thế gian
này hoại, các chúng sanh sanh lên cõi trời Hoảng dục10; ở trong cõi ấy,
sắc vi diệu, do ý hóa sanh. Tất cả chi tiết và các căn đều đầy đủ, dùng hỷ
làm món ăn, tự thân phát sáng, bay lên hư không, sống lâu trong tịnh
sắc11.
“Này Bà-tư-tra, trong một thời gian quả đất này tràn ngập nước12, do gió
thổi qua và khuấy động trên mặt nước đóng lại một lớp tinh, hòa hiệp
giống như sữa chín đóng váng và đông lại thành một lớp tinh. Cũng vậy,
Bà-tư-tra, có một thời gian quả đất này tràn ngập nước, do gió thổi và
khuấy động, trên mặt nước đông lại và hợp tụ hòa hợp thành một lớp tinh,
từ đó sanh ra vị của đất13, có sắc, có hương vị. Sắc nó như thế nào? Giống
như sắc của sanh tô, và sắc của thục tô. Và vị của nó như thế nào? Như vị
mật ong.
“Này Bà-tư-tra, có một thời gian khi thế giới này trở lại thời kỳ thành lập,
có những chúng sanh, sanh trên cõi trời Hoảng dục, tuổi thọ hết, nghiệp
hết, phước hết, mạng chung, sanh trở lại làm người, sanh vào thế gian
này, cũng với sắc tướng thù diệu và do hóa sanh; tất cả chi tiết và các căn
đều đầy đủ, dùng hỷ lạc làm thức ăn, tự thân phát sáng, bay trong hư
10 Hoảng dục thiên 晃 昱 天. Pāli: Ābhassara, Quang âm thiên, hay Cực quang
thiên.
11 Pāli: subhaṭṭhāyin, sống trong phước lạc thuần tịnh.
12 Bản Pāli: ekodakībhūtaṃ... andhakāro andhakāratimisā, chỉ tồn nước, một màu
đen sẩm tối tăm.
13 Pāli: rasapaṭhavī, vị đất, hay đất dưới dạng dịch vị (thể lỏng).