Bản chủ
Trang 120
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh man-nhàn-ñề333
lợi hữu ích, an ổn khối lạc cho người mù, nên đem chiếc áo cáu ghét
nhơ bẩn, đến nói với người mù rằng: ‘Ông nên biết, đây là chiếc áo trắng
tinh, không bẩn. Ông hãy cung kính đưa hai tay nhận lấy mà khốc lên
thân.’ Người mù ấy liền hoan hỷ đưa hai tay cung kính thọ nhận, khốc
lên thân mà nói rằng: ‘Trắng tinh, không bẩn! Trắng tinh không bẩn!’
Này Man-nhàn-đề, người mù ấy tự mình biết mà nói lên như thế, hay
không tự mình biết mà nói lên như thế? Tự mình thấy mà nói lên như thế,
hay không tự mình thấy mà nói lên như thế?”
Man-nhàn-đề dị đạo đáp:
“Thưa Cù-đàm, người ấy nói như vậy nhưng quả thật không biết, không
thấy gì cả.”
Đức Thế Tôn nói:
“Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, ông như người mù không có mắt. Thân
chính là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là
không, là không phải tự ngã. Thế mà ông dùng hai tay xoa bóp và nói
rằng: ‘Thưa Cù-đàm, cái này không bệnh, cái này là Niết-bàn.’ Này
Man-nhàn-đề, thế nào là không bệnh, ông còn không biết, há lại thấy biết
Niết-bàn, được Niết-bàn chăng? Nói rằng thấy Niết-bàn thì quả không
thể được. Này Man-nhàn-đề, Như Lai, Vô sở srước Đẳng chánh giác nói
rằng:
Không b nh, l i b c nh t,
Ni t-bàn, l c t i th ng,
Ch con ng Bát chánh,
n an n cam l 9.
“Trong chúng đó nhiều người được nghe bài kệ này. Sau khi số đông
những người dị họ nghe bài kệ này, liền truyền lại cho nhau, nhưng
không hiểu rõ nghĩa lý. Họ đã nghe và muốn tìm cầu giáo nghĩa, họ đều
là kẻ ngu si, trở lại tự lừa dối lẩn nhau. Thân bốn đại hiện tại của họ là do
cha me sanh ra, được nuôi lớn nhờ ăn uống, che đậy của y phục, chăm
sóc bằng tắm rửa, đó là pháp hủy hoại, là pháp tan rã, nhưng họ thấy là
ngã, chấp thủ là ngã, duyên thủ nên có hữu, duyên [672c] hữu nên có
sanh, duyên nới sanh nên có già, chết, duyên nơi già, chết nên có buồn
rầu, khóc than, lo lắng, khổ sở, áo não. Như vậy, tồn bộ khối lớn khổ
9 Hán: cam lồ (lộ) 甘 露. Pāli: amata: cõi bất tử. Cf. Pháp cú 204.