Bản chủ
Trang 112
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
153. KINH MAN-NHÀN-ĐỀ 1
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Câu-lâu-sấu, trú ở tịnh thất đệ nhất2 của Bà-la-bà3
trên một đệm cỏ.
Bấy giờ vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn [670b] mang y, cầm bát vào
Kiếm-ma-sắt-đàm,4 tuần tự khất thực. Sau buổi cơm trưa, thu dọn y bát,
rửa tay chân, Ngài vắt tọa cụ lên vai đi đến chỗ nghỉ ban ngày tại một
khu rừng. Khi đã vào rừng, Đức Thế Tôn đến dưới một gốc cây, trải tọa
cụ và ngồi kiết già.
Lúc ấy vào buổi xế trưa, Dị học Man-nhàn-đề5 thong dong, tản bộ đến Đệ
nhất tịnh thất của Bà-la-bà. Từ xa Dị học Man-nhàn-đề thấy trên sàn rải
cỏ ở tịnh thất ấy có dấu nằm một bên hông, như chỗ nằm của sư tử, của
Sa-môn, của đồng phạm hạnh. Trông thấy vậy, Dị học Man-nhàn-đề hỏi
Bà-la-bà:
“Trong Đệ nhất tịnh thất ấy, sàn cỏ có dấu nằm một bên hông này của ai
mà giống như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh như
thế?”
Bà-la-môn Bà-la-bà đáp:
“Này Man-nhàn-đề, có Sa-môn Cù-đàm con dòng họ Thích, từ bỏ Thích
tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Ở trong tịnh
thất đó, sàn cỏ có dấu nằm một bên hông đó, như chỗ nằm của sư tử, của
Sa-môn, của đồng phạm hạnh chính là của Sa-môn Cù-đàm.”
Dị học Man-nhàn-đề nói:
“Này Bà-la-bà, tôi nay phải thấy cảnh không đáng thấy, phải chấp thuận
điều không đáng nghe; nghĩa là phải thấy chỗ nằm của Sa-môn Cù-đàm.
1 Các bản Hán đều in là Tu nhàn đề 鬚閑提. Nhầm tự dạng tu 鬚 và man 鬘. Ở
dây phong theo phiên từ Phận mà sửa lại. Pāli: M.75. Māgandiyasuttaṃ.
2 Đệ nhất tịnh thấ t第一靜室. Pāli: agyāgāra, ngôi nhà thờ lửa. Bản Hán đọc là
agra: đệ nhất, thay vì agya (aggi-agāra), lửa.
3 Bà-la-bà 婆羅婆;Pāli: Bhāradvāja.
4 Kiếm-ma-sắt-đàm 釰摩瑟曇. Pl.: Kammāsadhamma.
5 Man-nhàn-đề dị học 鬘閑提異學. Pāli: Māgandiya, ngoại đạo xuất gia.