Bản chủ
Trang 51
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH tònh baát ñoäng ñaïo 602
“Bạch Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì chắc
chắn chứng đắc Niết-bàn chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì chắc chắn
chứng đắc Niết-bàn”.
Bấy giờ Tôn giả A-nan chắp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã thuyết về Tịnh bất động đạo, đã thuyết về
Tịnh vô sở hữu xứ đạo, đã thuyết về Tịnh vô tưởng xứ đạo, đã thuyết về
Vô dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, thế nào là sự giải thoát của bậc Thánh?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của
đời này hay dục của đời sau, dù là sắc của đời này hay là sắc của đời sau,
dù là dục tưởng của đời này hay là dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng
của đời này hay là sắc tưởng của đời sau và bất động tưởng, vô sở hữu
tưởng, vô tưởng tưởng, tất cả các tưởng ấy đều là pháp vô thường, khổ và
diệt, đó là hữu thân22. Nếu là hữu thân thì đó là sanh, đó là già, đó là bệnh,
đó là chết.
“Này A-nan, nếu có pháp này thì diệt trừ tất cả, không để lưu dư, không
để có trở lại. Như vậy thì không sanh, không già, không bệnh, không chết.
“Bậc Thánh quán như vậy. Nếu cai gì có, cái đó là pháp giải thoát. Nếu có
cái gì là bất tử, 23 cái đó là Vô dư Niết-bàn. Vị nào quán như vậy, chắc
chắn tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu. Đã giải
thoát liền biết đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này A-nan, Ta nay đã nói cho ngươi nghe về Tịnh bất động đạo, về
Tịnh vô sở hữu xứ đạo, về Tịnh vô tưởng đạo, về Vô dư Niết-bàn, về sự
giải thoát của bậc Thánh. Như bậc Tôn sư với tâm đại bi, đoái tưởng,
thương xót, mong cầu phước lợi và thiện ích, cầu an ổn và khoái lạc cho
đệ tử, những điều ấy Ta nay đã làm xong. Các ngươi hãy tự mình làm.
22 Nguyên hán: tự kỷ hữu 自己有: tự thân, hay hữu thân, về sự chắc thật của
năm uẩn. Pāli: sakkāya.
23 Nguyen hán: cam lộ 甘露, cũng hiểu là bất tử. Pāli: amata.