Bản chủ
Trang 48
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH tònh bất ñộng ñạo599
đời này hay dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này hay sắc
tưởng của đời sau, và bất động tưởng, tất cả tưởng đều là pháp vô thường,
khổ và diệt’. Vị ấy bấy giờ đắc Vô sở hữu xứ tưởng. Vị ấy bằng sự hành
này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi
xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo
ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động, hoặc do tuệ mà giải thốt. Về sau,
khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến
bất động. Đó là gọi là thuyết Tịnh vô sở hữu xứ đạo thứ nhất12.
“Lại nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Thế gian này là
không, ngã không, ngã sở không,13 cái hữu thường không, cái hữu hằng
không, cái trường tồn không, cái không biến dịch không’. Vị ấy hành như
vậy, học như vậy, tu tập và phát triển như vậy thì ở nơi xứ mà tâm được
minh tịnh. Sau khi ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo ấy hoặc
nhờ đó mà tâm nhập Vô sở hữu xứ, hoặc do tuệ mà giải thốt. Về sau, khi
thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến Vô sở
hữu xứ. Đó là trường hợp thứ hai được gọi là Tịnh vô sở hữu xứ đạo.
“Lại nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Ta không phải
được tạo ra vì cái khác, cũng không phải được tạo ra vi chính mình14’. Vị
ấy hành như vậy, học như vậy, tu tập và phát triển như vậy, ở nơi xứ mà
tâm được minh tịnh. Sau khi ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo
ấy hoặc nhờ đó mà nhập Vô sở hữu xứ, hoặc do tuệ mà giải thốt. Về sau,
khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến vô
sở hữu xứ. Đó là [543a]trường hợp thứ ba được gọi là Tịnh vô sở hữu xứ
đạo.
“Lại nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của đời
này hay dục của đời sau, dù là sắc của đời này hay sắc của đời sau, dù là
12 Tịnh vô sở hữu xứ đạo. Pāli: ākiñcaññāyatanasappayā paṭipadā, sự thực hành
đưa đến lợi ích của Vô sở hữu xứ.
13 Không ư thần không, thấn ơt hữu không 空於神神神所有空. Pl. suññam idaṃ
attena vā attaniyena, cái này là trống không với ngã và ngã sở.
14 Phi vị tha... Phi vị tự nhi hữu sở vi 非為他…非自為而有所為. Pāli: nāhaṃ
kvacani kassaci kiñcanatasmiṃ, na mama kvacani kismiñci kiñcanaṃ natthī’ti, tôi
không hiện hữu bất cứ ở đâu, cho bất cứ ai, trong bất cứ cái gì. Sở hữu của tôi
không hiện hữu bất cứ ở đâu, cho bất cứ ai, trong bất cứ cái gì.