Bản chủ
Trang 47
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH tònh bất ñộng ñạo 598
“Vị ấy bằng sự hành này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để phát
triển rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh.7 Sau khi tâm đã
minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động8,
hoặc do tuệ mà giải thốt9. Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý
đã có sẵn ấy10, chắc chắn đạt đến bất động. Đó gọi là thuyết về Tịnh bất
động đạo11 thứ nhất.
“Lại nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Những gì là sắc, tất
cả những sắc ấy là bốn đại và bốn đại tạo thành. Bốn đại ấy là pháp vô
thường, khổ và diệt’. Vị ấy bằng sự hành này, bằng sự học này, như vậy
mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh.
Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập
vào bất động, hoặc do tuệ mà giải thốt. Về sau, [542c] khi thân hoại
mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến bất động. Đó
gọi là thuyết Tịnh bất động đạo thứ hai.
“Lại nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của đời
này hay dục của đời sau, dù là sắc đời này hay sắc đời sau, dù là dục
tưởng của đời này hay dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này
hay sắc tưởng của đời sau, tất cả tưởng ấy đều là pháp vô thường, khổ và
diệt’. Vị ấy bằng sự hành này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để
phát triển rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã
minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động, hoặc
do tuệ mà giải thốt. Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có
sẵn ấy, chắc chắn đạt đến bất động. Đó gọi là thuyết Tịnh bất động đạo
thứ ba.
“Lại nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán thế này: ‘Dù là dục tưởng của
7 Pl.: āyatane cittaṃ pasīdati. Sớ giả: tâm minh tịnh nở nơinguyên nhân, tức ở nơi
A-la-hán quả hoặc hướng dên A-la-hán; đẹ tứ thiền hoặc hướng đến đệ tứ thiền.
8 Nhập bất động 入不動. Pāli: āneñjaṃ samāpajjati, nhập định với trạng thái bất
động, chỉ đệ tứ thiền.
9 Dĩ tuệ vi giải 以慧為解. Pāli: paññāya adhimuccati, do tuệ mà có quyết định.
Cũng có thể hiểu, do tuệ mà quyết định giải thốt.
10 Nhân bản ý 因本意. Pāli: saṃvattanikaṃ viññaṇaṃ, thức đã được định hướng.
11 Tịnh bất động đạo 淨不動道. Pāli: āneñjasappayā paṭipadā, sự thực hành đưa
đến lợi ích của bất động.