Bản chủ
Trang 358
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH BÁT NẠN48
với người tu phạm hạnh.
“Lại nữa, vào lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn xuất hiện ở thế gian, thuyết pháp đưa đến
tịch tịnh, đưa đến tịch diệt, đưa đến giác đạo, những điều Thiện Thệ dạy,
thì bấy giờ người ấy tuy sanh nhằm chốn văn minh17 nhưng lại điếc, câm,
ú ớ như dê kêu18, dùng tay thay lời, không thể nói nghĩa thiện ác. Đó là
nạn thứ sáu, việc phi thời thứ sáu đối với người tu phạm hạnh.
“Lại nữa, vào lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn xuất hiện ở thế gian, thuyết pháp đưa đến
tịch tịnh, đưa đến tịch diệt, đưa đến giác đạo, những điều Thiện Thệ dạy
thì bấy giờ người ấy tuy sanh nhằm chốn văn minh, không điếc, không
câm, không ú ớ như dê kêu, không dùng tay thay lời, có thể nói nghĩa
thiện ác, nhưng lại có tà kiến và điên đảo kiến. Người ấy thấy như vầy và
nói như vầy, ‘Không bố thí, không trai tự, không chú thuyết, không có
nghiệp thiện ác, không có nghiệp báo của thiện ác, không có đời này đời
khác, không cha không mẹ, ở đời không có bậc chân nhân đi đến thiện xứ,
khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự tác chứng thế giới này và thế giới
khác, thành tựu an trụ’. Đó là nạn thứ bảy đối với người tu phạm hạnh.
“Lại nữa, vào lúc Như Lai, [613c] Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn không xuất hiện ở thế gian, cũng
không thuyết pháp đưa đến tịch tịnh, đưa đến tịch diệt, đưa đến giác đạo,
những điều Thiện Thệ dạy thì bấy giờ người ấy lại sanh nhằm chốn văn
minh, không điếc, không câm, không ú ớ như dê kêu, không dùng tay
thay lời, lại có thể nói nghĩa thiện ác và có chánh kiến, không có điên đảo
kiến. Người ấy thấy như vầy và nói như vầy, ‘Có bố thí, có trai tự, cũng
có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo của thiện ác, có đời này,
có đời khác, có cha, có mẹ, ở đời có bậc chân nhân, đi đến thiện xứ, khéo
đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự tác chứng thế giới này và thế giới khác,
17 Hán: trung quốc 中國. Pāli: majjhimesu janapadesu, chỉ những nước ở trung bộ
Ấn-độ.
18 Như dương minh 如 羊 鳴. Pāli: eḷamūga, vừa điếc vừa câm.